Friday, January 23, 2015

Mùa Vàng Hoa Cải

Tác giả: Lê Xuân Hoa


Chỉ một kỳ thi tốt nghiệp.
“Có một mùa hoa cải
Nắng vàng trong mê mải”. 

Em là con gái nhà quê, nhút nhát và tự ti. Miền quê của em nằm bên kia sông Đuống với những cách đồng hoa cải vàng mướt mát chảy dài chân đê. Ở cái mảnh đất nghèo khó “Chó ăn đá, gà ăn sỏi” ấy tuổi thơ của em đã đi qua trong trẻo, hồn nhiên. Nơi ấy cha em, ông nội em và cả cụ tổ nữa đã định cư và sinh sống. Lên Hà Nội theo học ngành Sư Phạm em chỉ mong ngày tốt nghiệp trở về quê làm cô giáo. Em sẽ dạy cho bọn trẻ trí thức của nhân loại. Khi lớn lên chúng sẽ hiện đại hóa nông thôn. Cuộc sống sẽ thay đổi, sung túc hơn và đầy đủ hơn. Ủy ban sẽ không phải trả lương cô giáo cho em bằng thóc. Học sinh sẽ không còn ngồi học trong cái đình làng lụp xụp ẩm thấp rêu mọc xanh mờ. Ngày nhập học mẹ đưa em ra bến xe. “Đất quê mình bạc lắm thoát ly đi học đại học được mười người thì chín người bon chen ở lại Hà Nội, may mắn họa hoằn mới được một người về làng, lấy trí thức đâu mà phát triển nông thôn?”. Nhìn dáng mẹ nhỏ bé giữa bến xe huyện mời mịt khói xăng, lòng em quặn thắt. Thương lắm cái mảnh đất nhọc nhằn đã nuôi em khôn lớn.
Anh là người cùng quê với em, học Kinh Tế, thông minh và tự tin. Lơ ngơ giữa thành phố náo nhiệt và xa lạ, anh nghiễm nhiên trở thành nơi nương náu duy nhất của em. Anh hợp với những vùng đất năng động chứ không lạc hậu, thô sơ như quê mình nhưng em vững tin vào tình yêu. Chỉ với niềm tin người ta mới có đủ sức mạnh để vượt qua trở ngại. Ngày xưa mẹ đã theo cha về đây. Và vì một lời hẹn ước mẹ đã mỏi mòn chờ đợi cha đi qua cuộc chiến trong tuổi xuân của mình. Em thích kể với anh về những bông cải vàng mảnh mai như nắng. Hồi nhỏ mỗi sáng em vẫn thường chân trần lúp xúp chạy giữa cánh đồng, sung sướng xoè tay hứng những giọt sương còn đọng lại trên búp. Anh ngạc nhiên lắng nghe em say sưa diễn thuyết, nhè nhẹ kéo tóc em mỉm cười “Sao em nhớ kỹ thế, nhưng ở huyện đã có công ty nước nào dám bỏ vốn đầu tư chưa?”.
Tối thứ bảy, em loay hoay bật tắt, bật tắt công tắc đèn. Quyển sách đặt ngay ngắn trước mặt. Chuông đồng hồ ngân nga gõ mười tiếng. Em thần người. Trống vắng và cô độc ùa đến. Em rũ người ra vì mệt mỏi. Cảm giác như sự kiên nhẫn trong em đã cạn kiệt. Có tiếng kẹt cửa. Hạ về, “Vẫn chưa đến hả Thùy?”. Em im lặng. Gió ùa theo Hạ thổi vào phòng lạnh buốt. Hạ đặt tay lên vai em “Đừng nhập nhằng mãi Thùy ạ. Mọi thứ đều cần có giới hạn của nó”. Em mím môi, tưởng như mình sắp ngã quị mất. Vậy ra anh muốn tránh mặt em. Việc gì anh phải làm thế? Anh đã nói yêu cũng có thể nói chia tay lắm chứ. Cứ im lặng thế này lại làm em nuôi ảo vọng, cứ nấn ná chờ đợi lại làm em tự chất vấn bản thân, mình có lỗi gì? Hay mình đã làm gì sai? Người nhà quê như em thật thà lắm. Nói yêu là yêu, nói ghét là ghét chứ không tế nhị, kiểu cách như người thành phố… Em gục mặt xuống bàn. Khóc òa. Hạ choàng tay ôm ngang người em. Gió vẫn lùa lạnh buốt khắp căn phòng trống. Có lẽ Hạ quên không cài cửa.
Mùa đông, em tì hai tay lên thành cầu, tóc bay xấp xõa. Hun hút phía dưới dòng nước đen ngòm cuồn cuộn như đang cố nén tiếng gầm gừ trong cổ họng. Em nhướng mắt. Ngọn đèn cao áp lành lạnh xanh hắt xuống mặt sông thứ ánh sáng leo lét ma quái càng làm tăng thêm vẻ bí hiểm lù đù của những con sóng đập mình vào chân cầu. Lâm đứng cạnh em, nhún nhẩy trên đôi giầy khủng bố to sụ giọng kiêu hãnh:
- Thùy nhìn mà xem hoành tráng chưa. Đây là cây cầu thế kỷ, niềm tự hào của Hà Nội đấy.
Em kiễng chân, rùng mình choáng ngợp trước sự kỳ bí mênh mang. Dòng sông như con quái vật khổng lồ. Con người chợt bé tẹo như những chú kiến lăng xăng. Em thì thào:
- Nhảy từ trên này xuống thì thế nào nhỉ? Biết đâu đường tới thiên đàng cũng nên.
Lâm hốt hoảng:
- Thùy nói cái gì đấy? Điên à?
Vùng vằng lôi em đi “Thùy bám chắc vào. Về”. Em rón rén ngồi sau lưng Lâm. Tai ù đi.Nao nao thấy thương Lam, thương cả mình nữa.
Tuần trước Hạ đưa em đến tìm anh. Hai đứa đứng ngoài cửa. Anh không giải thích, không bóng gió xa xôi “Thôi coi như mình chưa quen nhau Thùy nhé”. Em sững sờ. Khi gặp anh em mới 18, giờ đã 22. Bốn năm, tình yêu đã lôi tuột em những tháng năm sinh viên, sao lại có thể chưa quen? Em ngẩn ngơ như người lỡ tay đánh rơi mất vật quí hoảng hốt chạy tìm. Hạ nắm chặt tay em, giọng nó lành lạnh “Tôi không ngờ”. Em bồng bềnh trôi trong cơn mộng du. Vô thức.
Lâm phanh xe, tắt máy.
- Thùy vào nghỉ đi. Cấm nghĩ linh tinh đấy nhé.
Mi mắt nặng trĩu, em hẫng hụt bước lên trên những bậc cầu thang tối om, về đến cửa phòng vẫn thấy Lâm đứng dưới đường, điếu thuốc lập lòe trên môi. Em đưa tay vẫy vẫy. Sực nhớ anh chưa bao giờ chờ em như Lâm. Ngày trước mỗi lần đưa em về anh thường chống một chân lên vỉa hè, nghiêng đầu ngó bâng quơ “Thôi anh về”. Em đứng lại đằng sau, lơ ngơ nhìn hút theo chiếc bóng đèn hậu đỏ lập lòe, nhòe nhoẹt dần. Em mấp máy môi “Ngày trước”, nghe như một thanh âm lạ lẫm, xa xôi.
Hạ bảo “Mình có nghị lực và tuổi trẻ, rồi sẽ qua cả thôi. Mày cứ ra bến tàu mà xem, ối người khốn khổ mà người ta vẫn phải sống cả đấy”. Em khác Hạ. Em không phải là trò chơi đã được lập trình trước. Hạ lúc nào cũng chính xác, tỉnh táo và biết phân tích mọi vấn đề. Em không là Hạ nên luôn nhầm lẫn giữa đúng và sai, giữa thật và giả. Em không thích nghi được với lối sống thành thị. Em thấy mình lạc lõng và yếu đuối. Thanh bình và yên ả đã ăn sâu vào tế bào, vào máu thịt của em.
Hạ chống nạnh, lè vè lượn khắp phòng sôi sùng sục hệt như trong chuyện này nó là người bị bỏ rơi chứ không phải là em “Mày phải tìm hiểu cho ra lẽ. Để thế mà chịu được à? Phải có lý do chính đáng chứ”. Em quay mặt vào tường kéo chăn trùm kín mít. Sáng lên thư viện, em không dám rẽ vào con đường quen thuộc dẫn qua nhà anh ở trọ - ngôi nhà có giàn hoa tigôn màu hồng mà em vẫn đùa là hoa tim vỡ. Em đi bằng những ngả đường rối rắm quanh co khác, hết ngã ba lại đến ngã tư chỉ để tránh cho anh khỏi cảm thấy phiền hà. Con gái bọn em ngờ nghệch lắm nhưng cũng không cần đến lòng trắc ẩn của thiên hạ. Em không tự huyễn hoặc bản thân. Khi không còn tình yêu người ta có trăm ngàn cách để biện minh cho hàng động của mình. Giữa em và anh chẳng ai nợ nần gì ai. Anh đã bao giờ hứa hẹn gì đâu. Chỉ có em cả tin. Tin vào những điều không có thật. Hạ ngồi phịch xuống giường, ủ ê “Bốn năm. Trắng tay. Bây giờ nghĩ đến cảnh bắt đầu lại từ đầu sao mà mệt mỏi thế. Lại có một thằng mon men đến làm quen. Năm đầu ngồi chơi đến mười giờ. Năm sau rủ nhau đi xem phim, thuận buồm xuôi gió năm sau nữa mới tính chuyện tìm hiểu. Kinh quá thế thì chết già mất”. Em thò mặt ra ngoài chăn gật đầu đồng tình như cái máy “Ừ, kinh quá” và lơ mơ nghĩ đến anh. Tưởng tượng ra cảnh hai đứa dắt nhau về quê, phát hoảng không biết lúc em dạy học thì anh làm gì? Không lẽ để anh ngồi làm nhà kinh VAC?
Em đẩy cửa. Sững sờ. Đóa hoa cải vàng rực, dịu dàng được đặt trên bậu cửa hắt lên màu kiêu hãng của sự sống. Một mảnh giấy gấp tư cài phía dưới rơi ra. Nét chữ của anh
“Thùy thương!
Gửi cho em chút nắng vàng hiếm hoi đầu đông. Đêm qua, anh đã phóng xe về quê chỉ để tìm cho em những bông cải cuối mùa còn sót lại. Chút nữa trên đường ra sân bay anh sẽ mang chúng đến nhà em.
Anh được cơ quan cử đi học và anh hiểu đây là cơ hội mà anh cần nắm lấy. Anh biết em yêu hoa cải đến nhường nào nhưng anh không có sự lựa chọn nào khác. Mẹ đã chờ đợi cha dù cha không bao giờ trở về. Anh không giống mẹ lại đem cả cuộc đời ra chờ đợi mà mọi điều đều có thể đổi thay. Hơn nữa chắc gì ở quê anh đã có việc để làm…
Tha lỗi cho anh. Cầu chúc cho em được hạnh phúc.
Anh”. 

Em lặng lẽ đứng trên ban công tầng bốn. Bầu trời u ám, loang lổ một màu xám xịt. Nắng vàng gom cả lại trong vòng tay em, rực rỡ. Chợt nhớ em đã quên không nhắc anh hoa cải không cắm được trong lọ. Nó chỉ sống được với đất ven đê quê mình. Có lẽ em sẽ mang chúng về quê. Chỉ ở nơi ấy hoa cải mới có thể dắt em đi hết mùa đông lạnh lẽo này. Vâng, em sẽ về quê. Nơi ấy đang chờ em. Nơi ấy mẹ vẫn thường hát:
“Có một mùa hoa cải
Chia tay bởi chiến tranh
Em đã chờ đợi anh
Sao anh mãi không về”. 

Anh có biết không người ta chỉ thực sự hạnh phúc khi người ta có quê hương và có tình yêu. 

Mùa Hạ Cuối

Tác giả: Phương Thúy


Cây phượng ven đường đã cháy lên một màu rực lửa, báo hiệu một mùa hè nữa lại đến. Em đang lang thang như một người vô định trong khúc hát ngân vang da diết và tha thiết của những chú ve sầu ảo não. Một tháng nữa, em sẽ ra trường và cũng sẽ chẳng còn là cô sinh viên bé bỏng, thơ ngây của ngày nào. Khi ấy, tất cả sẽ lùi vào dĩ vãng. Dòng thời gian vô tình lướt qua như dòng người trên đường trôi qua em hờ hững và lạnh nhạt.

Kỷ niệm, hình ảnh của anh và em ngày trước nhập nhòa trong ký ức. Em cứ tưởng mình đã quên nhưng …em vẫn nhớ. Người ta không thể sống trong quá khứ, vâng đúng thế, nhất là cái quá khứ không tốt đẹp nhưng tìm quên nó đâu phải là chuyện đơn giản. Em đã từng tìm quên và cũng đã từng phải nhớ. “Khi cố quên là khi lòng nhớ thêm…” phải chăng là như thế? Hai năm, liệu anh có còn nhớ không? Nụ cười của anh sao mà trở nên chua chát quá, cay đắng quá. Anh chào em như chào một người bạn bình thường vô tình gặp. Phải chăng trong anh, em chỉ còn là một dấu chấm nhỏ nhoi và mờ nhạt? Người ta sao mà dễ quên quá. Anh còn nhớ anh đã hứa gì không? Hứa, xin hãy cố mà quên. Những ai đã từng ấp ủ, từng hy vọng thì hãy cố mà quên.

Công viên chiều nay dường như lặng lẽ. Em độc hành trên đôi chân của một kẻ lãng du. Cố ý hay vô tình, em dừng chân nơi ghế đá, nơi có cây phượng già mà ngày xưa em và anh đã từng khắc lên đó chi chít tên anh và cả tên em. Đó cũng là nơi mà anh đã trao cho em một chùm hoa phượng vĩ cuối mùa, trước khi anh đi xa học … Bàn tay em chạm nhẹ vào thân cây, sờ nhẹ lên những vết khắc. Ôi, thời gian! Hai năm, dòng thời gian vô tình đã nhẹ nhàng xoá đi tất cả. Vết khắc ngày xưa, nay chỉ còn là những vết sẹo lồi lõm trên thân cây. Hai năm thoáng qua mau chóng nhưng cũng đủ để lại những vết hằng trên thân cây cũng như trong trái tim bé bỏng và khờ khạo của em.

Bóng tối lấy đầy khoảng không trước mặt, em ngẩng lên … sững sờ. Anh và một người nữa – một cô gái xinh xắn đang tươi cười bên anh, một cái cười ngạo nghễ của những người chiến thắng. Anh im lặng nhìn thẳng vào mắt em, trong mắt anh đong đầy lời giải thích. Em mím môi gật đầu chào rồi lặng lẽ đơn độc ra đi. Em đi nhanh như chạy. Phải em không đủ sức đối đầu nên phải trốn chạy? Trốn chạy ánh mắt anh và cả nụ cười ngạo nghễ kia đang từng bước đuổi theo.

Tất cả đã quá đủ để cho em nhận ra rằng mình quá ngốc và quá ảo tưởng. Nồi niềm trông mong của em trong hai năm nay kết thúc như thế, còn gì cay đắng và chua xót hơn thế chăng? Những giọt lệ thi nhau rơi thấm qua bờ môi mặn chát. Đã đến lúc em phải nếm thử vị mặn của tình đời … Nhưng không, em không thể gục ngã và vật vã như thế. Ánh hào quang của tương lai đang chờ bước chân em. Em không thể nào quẳng tương lai mình vào một xó xỉnh tối đen của quá khứ được. Em phải quên và nhất định phải quên, như quên hẳn đi một mùa hạ của hai năm về trước, mùa hạ cuối cùng của cả anh và em. 

Mùa Dông Lại Về

Tác giả: Đoàn Thạch Biền


Từ điển tiếng Việt, trang 250, định nghĩa Cơn dông : "Trận gió mạnh hay dữ dội kèm theo có chớp và sấm, thổi lúc trời oi bức, thường trước khi có mưa rào". Nhưng không có định nghĩa Con dông. Ðể bạn dễ hiểu, tôi xin định nghĩa theo một câu hát của trẻ em : "Kỳ dông là ông kỳ đà, kỳ đà là cha cắc ké, cắc ké là mẹ kỳ dông...".
Bạn đã hình dung ra con dông chưa ? Nếu chưa, tôi xin phép dài dòng giải thích tiếp.

Mùa Hè năm 1974, tôi tốt nghiệp Ðại học Sư phạm Sài Gòn, hạng nhất kể từ dưới lên. Khi chọn nhiệm sở, trường lại ưu tiên gọi từ trên xuống. Vì vậy, các bạn tôi đã chọn hết các trường ở Sài Gòn hay các tỉnh lớn. Ðến phiên tôi, chỉ còn một trường trung học ở tận thị trấn Phan Rí. Tôi chẳng biết thị trấn đó nằm ở đâu trên đất nước Việt Nam nhưng cũng vui vẻ nhận giấy bổ nhiệm.

Thú thật, tôi đã nhận vì đang lúc đói, chứ không phải vì lòng ham muốn truyền bá quốc ngữ đến tận nơi chốn xa xăm. Chắc có bạn sẽ trách tôi chưa đi dạy mà đã thiếu lương tâm. Nhưng bạn đã biết đói là gì chưa ? Nếu chưa, bạn hãy làm một cuộc thí nghiệm nho nhỏ tại nhà. Nhịn ăn ba ngày, chỉ uống nước lạnh. Sau đó bạn sẽ thấy rõ chân lý... đói. Và bạn sẽ thấm thía câu nói của ông bà : Ðói, đầu gối phải bò.

Cũng may, lần đó tôi không phải bò từ Sài Gòn ra Phan Rí. Nhờ vay được tiền, tôi đã đi xe đò đàng hoàng. Xe chạy từ sáng đến chiều thì dừng lại ở một ngã ba trên Quốc lộ 1. Trời nắng gắt. Tôi bước xuống xe, lấy khăn lau mồ hôi, phủi sạch bụi đường bám ở quần áo, bôi chút biăngtin lên đầu, chải tóc rõ đường ngôi. Ðúng lời ông bà dặn : Ðói cho sạch, rách cho thơm. Tôi quên nói với bạn, tôi tốt nghiệp ban Việt văn, nên đầu óc lúc nào cũng chứa đầy "lời ông bà dặn".

Một cơn dông từ đâu đột nhiên ào đến như đón chào tôi. Cát bụi, rác rưởi bay mù trời thay confetti. Gió đã cuốn tôi về trời, nếu tôi không nhanh tay ôm chặt một gốc cây bên đường. Hai phút sau cơn dông biến mất. Quần áo, đầu óc tôi dính đầy cát bụi. Ngày đầu đặt chân đến nơi đây, tôi đã không giữ được mình sạch. Trong nhưng ngày sắp tới, tôi biết sống sao đây ? Lòng buồn rười rượi, tôi lấy khăn dụi mắt.

- Ông khóc vì bị lạc đường à ?

Cô bé mặc áo tím, có đôi mắt đen láy như hai hột nhãn. Nhìn lâu đôi mắt ấy dễ trợt chân té ngã, tôi ngoảnh mặt đi và thở dài.

- Ừ...

- Ông định đi đâu ?

- Ði tìm việc làm.

- Vậy ông đến đây không đúng lúc rồi. Ðang mùa Ðông ghe chài ít đi biển. Ðâu có việc gì làm.

- Tôi đến đây dạy học.

- Tướng ông mà là thầy giáo.

Ðể cô bé khỏi nghi ngờ, tôi móc túi đưa cho em xem tờ giấy bổ nhiệm. Cô bé lắc đầu.

- Chắc có sự lầm lẫn gì đây. Nhưng thôi, để em dắt ông đến trường cho người ta quyết định.

Tôi cầm túi xách đựng quần áo và sách vở bước theo cô bé. Vừa đi, tôi vừa hỏi em tên gì, ở đâu, làm gì ? Cô bé mím môi cười.

- Nơi đây nhỏ bé. Trước sau gì ông cũng biết mọi chuyện. Ðến trường rồi. Em chào ông.

Tôi chưa kịp nói cám ơn, cô bé đã bước đi thoăn thoắt. Sợ trễ giờ làm việc trường đóng cửa, tôi không dám đuổi theo em. Khi tôi vào văn phòng, ông hiệu trưởng đang chuẩn bị ra về. Coi giấy tờ của tôi xong, ông niềm nở dắt tôi đi một vòng giới thiệu trường. Ðể chuẩn bị cho niên học mới, các lớp học đều được quét vôi vàng sáng sủa. Ở góc sân trường, trên một cây phượng cổ thụ lá xanh um, có treo một cái kẻng lớn bằng niềng xe hơi.

- Thầy về thật đúng lúc. Tôi đang chia giờ dạy. Tôi sẽ sắp thầy dạy lớp mười một. Thứ hai tuần sau trường khai giảng, Thầy còn một tuần nghỉ ngơi. Ra đây thầy trọ ở đâu ?

Tôi nói:

- Tôi chẳng quen biết ai ở đây và nhờ ông hiệu trưởng giới thiệu một chỗ trọ.

Ông nhíu mày suy nghĩ một lúc, rồi nói :

- Tôi giới thiệu thầy tới ở tạm chỗ này, rồi tính sau.

Ông hiệu trưởng lái xe honda chạy dọc theo con đường chính dẫn vào trung tâm thị trấn. Hai bên đường là những ngôi nhà cũ kỹ, mái ngói thấp, tường vôi loang lỗ. Trừ các cửa hàng tạp hóa, các ngôi nhà khác đều đóng kín cửa tránh những con gió thường thổi bụi ở lòng đường bay mù. Trong không khí sực nức mùi nước mắm, làm bụng tôi đói cồn cào.

Ðến một con đường đầy cát, tôi phải phụ ông hiệu trưởng đẩy xe vào một xóm trồng đầy mận. Những trái mận chín đỏ, nhìn chỉ muốn hái trộm. Tôi hỏi :

- Xóm này tên xóm Mận, phải không ông hiệu ?

- Không, tên nó là xóm Rùng, vì người ở đây sống bằng nghề lưới rùng.

Không rành nghề đi biển, nghe cái tên tự nhiên tôi rùng mình. Ông hiệu trưởng dừng xe trước một ngôi nhà mới xây, mái lợp ngói đỏ tươi, phía trước có hàng rào là những cây xương rồng cao ngang ngực. Ông gọi "Chú Bảy ơi, chú Bảy." Một người đàn ông tóc muối tiêu, ngực vạm vỡ, mặc quần cụt, bước ra mở cổng. Ông mời chúng tôi vào nhà, uống nước trà.

Ông hiệu trưởng giới thiệu chú Bảy là bà con với ông. Rồi ông trình bày hoàn cảnh của tôi và nhờ chú Bảy cho tôi ở trọ. Chú Bảy gãi râu.

- Ông giáo cứ ở tạm đây. Mai sau tìm được chỗ ưng ý thời đi. Sẵn tôi nhờ ông giáo kèm hộ con nhỏ ở nhà. Tánh nó ngang quá. Con gái mà cứ đòi đi biển chứ không chịu học chữ.

Tôi cám ơn lòng tốt của chú Bảy và hứa sẽ hết lòng dạy kèm cô nhỏ. Ông hiệu trưởng đứng dậy chào ra về. Chú Bảy chỉ tấm phản nơi tôi ngủ và nói ra giếng ở phía sau tắm rửa.

Bước ra cửa sau, tôi nghe rõ tiếng sóng biển ầm ì và trước mặt cả một vòm mận đầy trái chín. Tôi không ngăn được, hái một trái bỏ vào miệng nhai. Chúa ơi ! Từ nhỏ đến bây giờ tôi mới được ăn một trái mận ngọt như vậy. Tôi hái trái thứ hai bỏ vào miệng. Chúa ơi ! Từ bây giờ cho đến lúc chết, chẳng nơi đâu tôi được ăn trái mận ngon như ở đây.

- A... á...á...

Tôi hét lên kinh hoàng và nhảy thụt lui ba bước, khi thấy những con quái vật từ trên trời rơi xuống bò lổn nhổn quanh chân mình. Cô bé tôi gặp hồi chiều đang đứng ở ngưỡng cửa sau, ôm bụng cười.

- Em thử xem ông có can đảm không.

Tôi cố gắng trấn tĩnh, nói châm chọc lại.

- Tôi nhảy thụt lùi vì sợ đạp chết những con vật "thân yêu" của em.

- Ông biết chúng là con gì không ?

Tôi nhìn kỹ những con vật đang bò trên cát. Chúng giống con tắc kè, nhưng to hơn nhiều và có những đốm xanh đỏ trên lưng, trông phát ớn. Tôi đã thấy con kỳ đà ở Sở thú Sài Gòn, nên mạnh dạn đáp.

- Chúng là bà con kỳ đà, tên chúng là con "kỳ quặc".

Cô bé ôm bụng cười phát ho rồi lắc đầu.

- Thật may, ông không phải là thầy của em. Thôi ông giúp em bắt chúng, để em làm thịt ăn cơm tối.

Tôi hơi hơi run, không biết cô bé nói thật hay đùa. Bắt chúng, lỡ chúng cắn chết, tôi phải bỏ thây nơi đất khách quê người thì thiên hạ ai là người sẽ khóc thương tôi ? May thay, chú bảy đã ra đúng lúc. Ông nói :

- Ðể ba bắt dông làm thịt. Con lo nấu nướng. Tối rồi.

Bữa cơm dọn lên chiếc bàn tròn, dưới ánh sáng ngọn đèn bình ắc qui. Chỉ có chú Bảy, tôi và cô bé. Sau này, tôi mới biết vợ chú Bảy chết đã lâu. Người con trai lớn của chú đi lính "ông Ðịa" đóng ở quận, đã có gia đình riêng.

- Ðang mùa dông, - Chú Bảy nói - tôm cá không có. Ông giáo ăn đỡ mấy con dông.

Nhìn mâm cơm thấy có ba dĩa : gỏi dông, dông xào lăn, dông nướng, mùi thơm bốc lên làm tôi ứa nước miếng. Nhưng nhớ lại hình ảnh mấy con dông khi còn sống, tôi đâm chột dạ, không dám gắp. Tôi sợ ăn chúng xong, đất sẽ "ăn tôi".

Hình như hiểu được sự e dè của tôi, cô bé gắp một miếng dông nướng ăn trước. Tôi run run gắp một miếng ăn theo. Ăn xong, tôi mới biết mình... đại ngu !

Nhớ hồi còn học tiểu học, cô giáo ra đề một bài tập làm văn : "Tả con vật mà em yêu mến nhất". Tôi đã tả con gà con. Thằng bạn thân của tôi tả con chó mực. Tôi đã chê nó ngu. Con chó đen thùi lùi làm sao đẹp bằng chú gà con trắng như cục bông gòn. Ðến năm hai mươi tuổi, biết nhậu chút chút, tôi mới biết mình ngu. Gà mái dầu cũng không "đẹp" bằng chó mực, huống chi gà con. Bây giờ gần ba mươi tuổi, gặp con dông, tôi mới biết cả hai đứa đều ngu như nhau. Thế mới biết ông bà nói chí lý : "Ði một ngày đàng học một sàng khôn".

Thấy tôi tấn công tới tấp ba dĩa thịt dông, cô bé cười nói :

- Ông làm dân ở đây được rồi.

Chú Bảy quay qua nạt cô bé :

- Con gọi ông giáo là thầy chứ.

- Ông ấy đã dạy con chữ nào đâu mà bắt con gọi là thầy.

Cô bé nói đúng. Năm học đó tôi dạy lớp 11, cô bé học lớp 10. Tôi chưa dạy em được chữ nào, trái lại, em đã dạy tôi nhiều thứ. Cách bắt dông ở những đồi cát trắng lóa. Cách làm thịt dông ăn khỏi ê mình. Cách nướng mực "một nắng" ăn ngọt nhất. Cách cạy hàu ở ghềnh Son ăn với muối tiêu...

Chưa đầy một năm, ngày giải phóng đến. Tôi phải về với gia đình ở Sài Gòn. Khi chia tay, cô bé nói mong ông sẽ không quên con dông ở xứ này. Tôi trả lời, đến lúc hấp hối vẫn thèm những món dông em làm. Không lâu đâu, mùa Ðông tới tôi sẽ trở lại.

Tôi đã không giữ được lời hứa. Những công việc mới đưa đẩy tôi đi nhiều nơi trên đất nước. Mười hai năm sau, tôi mới có dịp trở về Phan Rí, đúng lúc mùa dông.

Những con dông vẫn cực kỳ ngon như xưa. Nhưng xóm Rùng đã đổi khác. Những cây mận ngọt lịm đã chết vì bị biển lấn sâu vào bờ. Và gia đình chú Bảy cũng đã dọn đi đâu mất.

Buổi chiều đứng trước biển rầm rì tiếng sóng nhìn ra chân trời phủ kín mây đen, tôi thầm mong ở một nơi chốn xa xôi, cô bé đã quên những con dông. Nếu không, mỗi lần nhớ lại em sẽ đau lòng.

Từ điển tiếng Việt, trang 893, định nghĩa Yêu : "cảm thấy gắn bó, trìu mến, hài lòng, thích thú, say mê... với người hay vật có sức mạnh thu hút".

Chắc bạn đã sốt ruột gắt lên, thôi đừng kể lể dài dòng nữa. Ông đã yêu cô bé ở Phan Rí phải không ? Vâng, tôi đã yêu. Nhưng không phải yêu cô bé mà yêu con dông, vì nó có sức mạnh thu hút kỳ lạ.

Mái Tóc

Tác giả: Ngô Giang Thanh Thụy


Tôi lên thư viện vào buổi trưa . Có lẽ vì mới vào năm học được vài tuần, bài vở ít nên thư viện vắng teo . Rải rác, chỉ vài người ngồi học. Hè vừa rồi, người ta có dịp tu bổ sửa sang, sắp xếp lại bàn ghế lại nên tôi khó lòng mà tìm ra được chổ của anh và tôi ngày xưa .
Gọi là "ngày xưa" như thế, chứ thật ra thì có xa xôi gì đâu . Ba tháng hè. Cũng là ba tháng tôi và anh chia tay . Nói "chia tay" thì quá đáng bởi vì tôi biết chắc rằng ra trường anh vẫn ở lại thành phố này làm việc. Và biết đâu trong một lần tình cờ nào đó tôi sẽ gặp lại anh, trên đường phố chẳng hạn.
Cái góc ngày trước không còn. Bây giờ là một tủ sách. Tôi lặng lẽ ngồi vào một cái ghế trống trong hàng loạt ghế trống. Những cái quạt trần quay lờ đờ trên đầu trông buồn bã làm sao . Nó như nhịp sống của tôi từ ngày anh không còn chung bước.
Tôi quen anh ở đây, trong một tình huống thật buồn cười . Năm đầu tiên làm sinh viên, tôi đã ý thức được việc học hành là quan trọng. Học, chơi đàng hoàng đâu ra đó. "Học tới nơi, chơi tới bến" là vậy . Những lúc rãnh rỗi tôi lên thư viện Tổng Hợp để nghiên cứu thêm. Tôi mang tất cả những ngổ ngáo tinh nghịch, tính hiếu thắng và chút ít tự hào của thời phổ thông vào đại học. Bạn bè cùng lớp và những người ở trong thư viện này đã quen thuộc hình ảnh của tôi . Một con bé hớt tóc tém cao như con trai phô cái trán dô bướng bỉnh. Cái mặt lúc nào cũng kênh kênh như xem thường thiên hạ . Mới đầu mọi người nhìn tôi khó chịu, nhưng sau đó thì bình thường. Có lẽ họ nghĩ rằng: "Kệ nó chẳng là cái thá gì đâu". Anh cũng là người ban đầu nhìn tôi với cái kiểu như vậy . Dĩ nhiên là sau này tôi mới biết hồi đó anh đã ghét tôi như thế nào . Nhưng ông bà bảo "Ghét của nào trời trao của đó". Cuối cùng tôi và anh yêu nhau . Chuyện có đáng ngạc nhiên không ?
Chuyện là như thế này . Hôm đó sau khi nhồi nhét quyển văn phạm Anh Ngữ của Lê Bá Kông mệt nhoài đầu, tôi quay sang đọc truyện cười cho thư giãn. Đọc đến truyện anh nhà quê cả đời không biết đến tấm gương là gì. Một lần anh ta lên tỉnh qua hàng gương và kêu rú lên "Bố!" Tôi bật cười một cách khoái chí. Gã con trai ngồi đối diện với tôi lập tức cau cau có có. Hắn lấy tay gõ gõ lên bàn một cách trịch thượng. Chả biết hắn muốn nhắc nhở hay cảnh cáo tôi ? Tôi vội vàng im bặt. Dù gì cũng quá xá quê ! Nhưng nhìn cái mặt quạu cọ của gã bốn mắt này, tôi đâm bướng. Tôi nhìn thẳng vào mắt gã với vẻ thách thức:
- Gõ cái gì ? Truyện cười đọc phải cười chứ đọc mà khóc ai mua ?
Có lẽ mặt tôi lúc đó đằng đằng sát khí, trông dữ dằn quá nên gã thoái lui, vội dịu ngay nét mặt, nhỏ nhẹ nói:
- Đây là thư viện cô bạn. Muốn cười tự nhiên thì xin mượn về nhà tha hồ mà cười . Còn ở đây phải tôn trọng người khác.
Ái cha, lần đầu tiên có kẻ sửa lưng tôi . Hóa ra nãy giờ tôi có hành vi quấy rối nơi công cộng ! Nghe gã nói tôi đỏ mặt tía tai . Còn gã thì dường như thấy rằng đã hạ được tôi bằng một chiêu đau hơn bò đá nên khoái chí ra mặt. Nhìn cái vẻ hí hửng của gã tôi không chịu được, thế là tôi ôm tập đi xuống phòng "tạp chí" đọc báo cho đỡ quê và tức.
Những ngày cuối mùa mưa, Sài Gòn chiều tối xuống rất nhanh. Bên ngoài lất phất mưa . Tôi ra về nhưng trong bụng vẫn còn ấm ức vụ scandal hồi nãy . Ra bãi đậu xe, tôi chợt khựng lại . Ô hay, cái gã bốn mắt trời đánh thánh đâm này làm gì mà đứng xớ rớ bên chiếc xe của tôi . Hay là muốn trả thù cái thói chanh chua của tôi ? Rõ là "cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng" mà.
Được rồi, xem hắn giở trò gìchứ. Tôi hùng dũng tiến lại . Hóa ra là xe hắn vô tình để bên cạnh xe tôi . Nhìn thấy tôi, hắn cười cười cầu tài . Thấy ghét. Không thèm nói một lời, tôi lui xe và lấy hết sức đạp máy . Nhưng chiếc xe vẫn đứng trơ trơ, chẳng thèm lên tiếng. Tôi nóng nảy đạp máy lại . Vẫn không nổ. Một lần, hai lần, lần nữa ... lần nữa . Mồ hôi bắt đầu nhỏ giọt trên trán. Gã bốn mắt nhìn tôi ái ngại và hắn gạt chân chống chiếc xe mới toanh của gã, tiến lại chiếc xe cà khổ của tôi:
- Để tôi giúp bạn.
Hắn leo lên xe đạp xành xạch. Chiếc xe vẫn trơ lì. Hắn đưa tay đẩy gọng kính cười và lẩm bẩm:
- Xe này giống chủ quá !
Tôi nghe mà sôi máu, giận dỗi nắm cổ xe:
- Anh không sửa thì thôi, tôi nhờ người khác. Đừng nói xỏ nói xiên.
Hắn lại cười:
- Đừng nóng nhỏ, con gái mà nhăn mặt trông xấu lắm.
Tôi tức nghẹn họng. Còn gã thì xuống xe loay hoay tháo gỡ, lau chùi budi . Những thứ mà tôi chẳng biết nó là gì ? Một lúc sau chiếc xe giở chứng mới chịu nổ máy . Mồi hôi ướt đẫm lưng áo gã. Hai tay thì lấm lem dầu mỡ. Tôi quên ngay chuyện hồi trưa, lấy trong cặp ra chiếc khăn mùi soa nhỏ nhẹ nói:
- Anh lau tay đi . Không có anh tôi không biết phải làm sao . Cám ơn nha !
Anh ta nhìn đôi tay một cách ngần ngừ rồi nhìn sang chiếc khăn trắng của tôi lắc đầu:
- Thôi, không sao đâu . Dơ khăn của bạn hết. Tôi là Quân, còn gọi là Quân cận. Bye nha, chúc đi an toàn.
Anh ta rồ ga, chiếc xe lao vút về phía trước. Ở lại với tôi chỉ là một vài sợi khói mỏng manh. Tự dưng tôi cảm thấy xốn xang. Tôi lên xe chạy chầm chậm về phía Bạch Đằng. Tôi muốn mình có sự quân bình. Nhưng dọc đường đôi mắt kính của Quân và kiểu phớt tỉnh Ăng lê của anh ta vẫn ám ảnh tôi . Đường Nguyễn Huệ vào buổi tối bình yên với những ngọn đèn ấm áp, người qua lại xôn xao . Còn tôi hình như đã có một cái gì đổi khác.
Bắt đầu từ hôm ấy, tôi đi thư viện thường xuyên hơn. Và lần nào cũng vậy, tôi đều thấy Quân vẫn ngồi chổ cũ, nhìn tôi mỉm cười chào . Những lần như vậy, vẻ ngông nghênh thường ngày của tôi trốn đi đâu mất, chỉ còn trái tim tội nghiệp đập loạn xạ . Rất là con gái, tôi tìm cho mình một nơi khác, xa hẳn chổ Quân ngồi . Nhưng mỗi lần tôi nhìn lên, đều bắt gặp một đôi mắt to sáng lấp lánh sau đôi kính nhìn tôi trìu mến. Tôi đã lẩn trốn đôi mắt ấy một cách bối rối, nhưng tự đáy lòng tôi rộn rã và hạnh phúc biết bao .
Mười tám tuổi tôi yêu, và anh là người đầu tiên. Đó là những ngày đầy hạnh phúc. Anh hơn tôi hai tuổi, học khác ngành và trên tôi hai năm. Anh rất "cổ điển" sau cái dáng dấp "bụi bụi". Những lần đùa nghịch, anh thường cú lên đầu tôi . Còn tôi thì giả vờ giận dỗi, lúc lắc mái tóc ngắn ngủn đợi anh xin lỗi mãi mới thôi . Một lần anh vuốt tóc tôi và nói:
- Con gái để tóc dài trông thùy mị và dê~ thương.
Lập tức tôi dẫu môi, phụng phịu:
- Chứ em không dễ thương sao ?
Anh cười trìu mến:
- Ý anh không phải vậy . Anh nghĩ là em để tóc dài sẽ đẹp hơn. Em để tóc dài thử nha ?
Tôi chúa ghét để tóc dài . Nó vướng víu và nóng nực thế nào ấy . Tôi nhìn vào mắt anh. Đôi mắt chứa cả trời yêu thương và khuyê'n khích. Tôi nhè nhẹ gật đầu .
Từ tóc tém để sang tóc dài là cả một quá trình. Mỗi lần nhìn vào gương thấy tóc mình cứ như chú gà trống đang đổi lông, xơ xác và nham nhở là tôi không chịu được. Tụi con Vân, con Hà bảo:
- Mày cắt tóc đi, khuôn mặt mày để tóc tém là hợp nhất. Trông trẻ trung. Mày để tóc dài nhìn "đứng" lắm.
Nghe tụi nó bàn tôi thấy cũng có lý, xiêu xiêu . Nhưng khi nghĩ đến anh, tôi lập tức dẹp ngay ý định đó. Mỗi lần tụi nó giục là tôi cười lỏn lẻn:
- Bây giờ tôi thích để tóc dài cho nó thùy mị .
Tụi nó phá lên cười:
- Chuyện khó tin. Mày mà cũng tập thùy mị .
Con Vân gõ gõ tay lên trán:
- Tao nhớ rồi, con Giang bây giờ lạ lắm. Nó yểu điệu thục nữ ra nè, hổng còn quậy nhí nha nhí nhố nữa nè, chàng bốn mắt của nó bảo gì nó cũng dạ ngọt sớt hà.
Cả lũ cười hihi . Tôi đỏ bừng mặt. Nếu như hồi trước chắc tôi xách chổi rượt chạy te, nhưng bây giờ thì khác. Không còn con gái chút nào cả !
Tóc tôi dài chấm vai . Tôi và Quân ngày càng gắn bó. Chúng tôi có những kỷ niệm tuyệt đẹp. Tôi đã hoàn toàn thay đổi . Từ một cô bé bướng bỉnh sẵn sàng giở chứng và ngang như cua thành một cô gái đoan trang thùy mị . Chúng tôi yêu nhau . Tìng yêu làm cho tôi tự tin hơn, lớn hơn và vị tha hơn. Tôi hoàn toàn tin vào tình yêu của Quân và không hề lo sợ một sự đổi thay nào . Chúng tôi vẫn thường lên thư viện học bài . Và bao giờ cũng ngồi vào chổ của ngày đầu quen nhau .
Tóc tôi dài theo thời gian. Đến ngang vai . Quân lên năm thứ 5, còn tôi thì đã năm thứ ba . Anh đi thực tập liên tục. Những cuộc hẹn hò của chúng tôi thường xuyên bị đảo lộn. Tôi tỏ ra thông cảm với anh mà không có sự hờn trách nào . Công việc đòi hỏi anh như vậy mà. Tôi là đứa con gái có sự tự chủ. Trong tình yêu và cả công việc. Những lần anh đi xa, tôi thường trấn áp mình và làm dịu nỗi nhớ về anh bằng cách lao đầu vào công việc. Tôi đi học, đi dạy . Bài vở và những câu hỏi ngây thơ của những đứa học trò làm tôi thăng bằng và bình an.
Mỗi lần anh về, tôi mừng khôn xiết. Anh hỏi han tôi trong sự vội vàng. Anh bây giờ luôn bận rộn. Có lẽ gần ra trường nên cực năng hơn chăng. Mỗi lần gặp nhau anh đều chủ động kết thúc một cách nhanh chóng bằng cái bẹo má tôi và dặn dò:
- Anh có việc phải đi . Đừng buồn. Ngoan nhé !
Những lần như vậy dĩ nhiên là tôi rất buồn. Tôi luôn an ủi mình và cố tin rằng anh rất bận. Đôi lúc nghi ngờ và lờ mờ nhận ra sự thay đổi nơi anh. Nhưng rồi tôi vội gạt đi ý nghĩ đó ngay lập tức.
Ngày sinh nhật tôi anh không về như đã hứa . Toàn bộ sự hiện diện của anh là một cái thiệp in hình bông hồng đỏ sẫm, một vài câu chúc và một cái chữ ký ngoằn ngoèo . Vậy đó ! Thật buồn bã và thất vọng, tôi lấy xe chạy ra phố. Như một thói quen, tôi chạy về phía đường Bạch Đằng. Gió từ sông thổi lên mát rượi . Tôi lang thang dọc bờ sông, đi thẩn thơ qua hàng ghế đá và hàng sứ lác đác hoa . Chợt mắt tôi hoa lên. Quân - người yêu của tôi đang choàng tay ôm một cô gái . Cả hai chụm đầu lại . Bên cạnh họ, hai chiếc xe cub đời mới dựng sát bên nhau . Cuối cùng thì tôi đã hiểu sự bận rộn của anh. Nơi đây, lần đầu tiên tôi đến để nghe cảm xúc của mình rung động. Và cũng chính nơi đây, tôi lại phải trấn áp nỗi đau của mình. Tôi không ngờ nơi đây là nơi mở đầu và cũng là nơi kê't thúc một chuyê.n tình. Tôi chạy xe như bay trên đường. Tóc bay lòa xòa trước trán, châm vào mắt đau điếng. Thật trớ trêu, khi tóc tôi đã dài thì tôi đã không giữ được Quân!
Hôm sau, sau một đêm không ngủ tôi ra tiệm cắt tóc. Những người thợ ngạc nhiên vô cùng khi nghe tôi bảo cắt tóc tém. Một chị lấy tay buộc túm tóc tôi bảo:
- Em suy nghĩ kỹ chưa ? Tóc đẹp như thế này cắt uổng lắm. Cắt thì dễ mà để dài thì khó lắm.
Lời chị vô tình như một mũi kim đâm vào tim tôi đau nhói . Ừ, để dài khó lắm, ba năm mới được chừng này . Ba năm, biết bao là kỷ niệm, bao hẹn hò, tính toán cho tương lai . Ba năm, tôi đã không còn như xưa ngây ngô nữa . Chững chạc và trưởng thành hơn. Tóc dài đã ngang lưng, nhưng cái "lớn" lên trong người tôi thì không đo được. Tình yêu làm tôi thay đổi . Dù là tóc dài hay tóc ngắn thì vẫn là tôi . Hình thức bên ngoài không có tính quyết định. Sự thay đổi của con người là vô căn cứ. Phù phiếm như lời nói mà thôi .
Tôi nhìn mình trong gương. Một gương mặt hiền hiền, ngơ ngác. Phải khác thôi . Tôi cắn môi quay sang bảo chị thợ:
- Cắt đi .
Nhát kéo đầu tiên cắm phập vào mái tóc. Tôi bật khóc.

Tác giả : Ngô Giang Thanh Thụy

Mai 15

Tác giả: Đoàn Thạch Biền


Năm ấy chúng tôi cùng học chung lớp 9. Mai giỏi văn, còn tôi giỏi đá banh bàn. Mai đã đứng nhất trường trong một kỳ thi văn có cả anh chị lớp 10, 11, 12 tham dự. Còn tôi, cũng đứng nhất trường trong các cuộc thi đá banh bàn với các anh lớp trên. Chúng tôi thân nhau không phải vì hai người đều "nhất". (Hai người nhất như hai đường tàu chạy song song biết đến bao giờ mới gặp nhau). Chúng tôi thân nhau vì gặp gỡ thường xuyên.
Mỗi ngày ngoài 4 giờ học chung trong lớp, tôi thường gặp Mai ở nhà của bạn ấy. Nhà Mai có cho thuê những bàn đá banh "ngon" nhất phố. Ðấy là lý do khiến tôi thường đến nhà Mai.

Một buổi chiều, không có đồng xu dính túi, tôi vẫn đến nhà Mai. Một phần vì "ghiền" xem đá banh bàn, một phần nghĩ sẽ "câu độ" em nào dại dột mời tôi thi đấu.

Mai ngồi ở trước chiếc bàn có để hộp đựng giơ tông ở trước mặt. Tóc Mai kết thành hai bím, cột nơ màu tím nhạt. Mai đang cúi đầu lẩm bẩm học bài. Trong phòng vắng người. Bốn bàn đá banh chưa có khách đến chơi. Tôi đến nắm một cây sắt có gắn hình những cầu thủ bằng gỗ, giựt manh. Mai ngẩng đầu nhìn :

- Trịnh không ở nhà ôn bài ? Sáng mai thi rồi !

Tôi giật một cây sắt cho cầu thủ đá một trái banh tưởng tượng rồi trả lời.

- Sáng mai thi, tối học cũng kịp.

- Trịnh học kiểu đó coi chừng ở lại lớp.

- Không lên lớp năm này sang năm lên, học cũng từng ấy bài. Có thiếu bài nào đâu mà lo !

- Trịnh đừng nói bướng. Ở lại một năm rồi sẽ ân hận.

Vừa lúc đó có một anh học lớp 12 cùng trường với tôi bước vào. Anh đến bên Mai nói nhỏ gì đó và Mai hét lên :

- Tôi không quen anh. Anh đi đi cho tôi học.

Anh học sinh đỏ mặt nói :

- Cô bé chăm chỉ quá nhỉ. Nhưng anh đến đá banh bàn được chứ ?

Rồi anh lấy tay ngoắc ngoắc tôi.

- Em đá với anh một bàn cho vui.

- Không anh em gì cả. Ðá đồng chịu không ?

- Cậu khá lắm. Ðá một chầu cà phê đá, chịu không ?

- Không. Ai thua người đó ra khỏi quán.

Anh học sinh cười :

- Anh cũng đang mong vậy.

Tôi đến lấy một đồng giơ tông thảy vào hộp đựng banh, giựt mạnh. Chín trái banh gỗ lăn ra. Tôi đặt một trái ở vòng tròn đỏ giữa mặt bàn màu xanh và bắt đầu giao bóng. Chúng tôi thi đấu rất căng thẳng. Không ai còn để ý đến Mai. Kết quả 3-6. Dĩ nhiên phần thắng nghiêng về tôi. Anh học sinh lững thững bước ra khỏi quán. Tôi đến chỗ Mai ngồi khẽ nói :

- Cho tôi thiếu một đồng giơ tông.

- Mai tặng Trịnh đó. Mai chỉ sợ Trịnh thua và hắn sẽ ở lại đây. Ðợi Mai pha đá chanh uống nghe.

- Thôi cám ơn. Tôi về để Mai học thi.

- Nhớ thứ năm đến dự sinh nhật Mai.

Buổi tối tôi đang ngồi ôn bài, bác tôi đến chơi. Ông vỗ đầu tôi khen chăm học và hỏi :

- Lớn lên cháu muốn làm gì ?

Tôi phân vân vì câu hỏi đột ngột. Ba tôi nhắc khéo :

- Con muốn làm bác sĩ hay kỹ sư ?

Rồi mẹ tôi nhắc khéo :

- Hay con muốn làm giáo sư ?

Tôi buột miệng đáp :

- Con muốn làm chủ tiệm cho thuê đá banh bàn và có bạn Mai ngồi bán giơ tông.

Ba tôi thở dài, má tôi thở dài và bác tôi cũng thở dài :

- Hoài bão của cháu bé nhỏ và tầm thường quá. Ðời cháu rồi sẽ khổ.

Ðến ngày sinh nhật Mai, mấy đứa bạn trong lớp đều lo mua quà tặng. Ðứa mua cây viết máy, đứa mua hộp bánh bích qui, đứa mua tấm ván thông có khắc hình cây nến... Tôi chẳng biết mua tặng Mai quà gì đặc biệt. Tôi nhớ đã học lén một quyển tiểu thuyết của chị Hai trong đó tả đôi trai gái đã tặng nhau trái trim của họ (chứ không phải của người khác). Tôi cũng muốn tặng Mai trái tim của tôi. Nhưng nếu tặng Mái trái tim của tôi thì làm sao tôi còn sống được ? Tôi đem thắc mắc ấy hỏi chị Hai. Chị cú đầu tôi đau điếng và nói :

- Mày ngu lắm. Ðấy là người ta nói theo nghĩa bóng. Chứ ai ngu gì tặng người khác trái tim thật của mình.

Tôi không đủ thông minh để hiểu nghĩa bóng. Tôi chỉ hiểu nghĩa đen. Vì vậy tôi đã giết con gà mái tơ của tôi, lấy trái tim gà luộc chín bỏ vào hộp gói giấy bóng đỏ, đem đến tặng Mai.

Trong buổi tiệc sinh nhật vui vẻ đó, khi mở hộp quà của tôi. Mai đã hét to lên. Không biết bạn ấy quá sung sướng hay sợ hãi. Riêng tôi phải chạy ra khỏi nhà vì hai lỗ tai bị lùng bùng nhức buốt.

Cuối năm học, Mai thi đậu lên lớp 10. Tôi thi rớt vì hai lỗ tai lùng bùng đã nghe sai những lời thầy dạy. Con gái 15 đúng là khôn hơn con trai cùng tuổi. Ở lại lớp một năm, tôi đã phải ân hận. Tôi không đuổi kịp Mai trên đường học vấn cũng như trên đường đời. Bạn ấy luôn luôn đi trước tôi một năm.

Bây giờ tôi đã hai lần tuổi 15. Bác tôi đã chết. Tôi không thể gặp ông để cùng góp tiếng thở dài.

- Hoài bão cháu nhỏ bé vậy mà cháu chỉ thực hiện được một nửa. Nếu ngày xưa cháu nuôi hoài bão lớn và chỉ thực hiện được một phần trăm thì đỡ khổ vô cùng.

Vâng hiện nay tôi đã là chủ tiệm cho thuê một bàn đá banh để cải thiện đời sống. Nhưng người ngồi bàn giơ tông không phải là Mai mà là chính tôi sau những giờ làm việc ở xí nghiệp.

Nếu bạn có thắc mắc hỏi : "Mai 15, bây giờ ở đâu?". Tôi xin thưa : Mai mãi mãi sống trong trái tim (gà) của tôi.

Lũ Ngầm

Tác giả: Trần Văn


Nó là người duy nhất trong lớp có gia đình ở Thừa Thiên - Huế. Nghe đâu gần một tấn lúa với ngôi nhà gỗ của gia đình nó theo dòng lũ về biển Ðông trong cơn đại hồng thủy tháng 11 vừa rồi.

Nó định nghỉ học, gia đình không cho. Trở lại trường hơn tuần rồi nhưng cơn lũ vẫn chưa rút khỏi đầu nó.

Ðêm qua cả phòng giật bắn người khi nghe tiếng nó la lên thảng thốt:

- ... Cứu! Cứu! Ai... C... ứ... u ... vớ... i...

Sáng nay, đến giờ ra chơi, lớp trưởng mời cả lớp lại:

- Với tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, lớp chúng ta có món quà nhỏ xin gửi đến bạn...

Lớp trưởng đang nói, bỗng từ dưới lớp tiếng ai đó vọng lên:

- ... Biết thế! Bữa trước bảo ông già chuyển ra Huế, cho rồi!

Nó nghe rõ. Mặt sầm xuống. Mắt cay cay. Câu nói đùa như cơn lũ thứ hai quét lên khuôn mặt nó.

Cả lớp chìm vào im lặng.

Trần Văn
(ÐHSP Qui Nhơn)

Linh Hồn Tình Bạn

Tác giả: Lê Xuân Hoa


Tặng một người đã từng là bạn. 

Dưới hàng ghế dành cho khán giả, tôi hồi hộp sung sướng và xen một chút tự hào về anh. Vậy là anh đã thành công, chắc chắn tôi không nằm mơ. Tôi nhìn thấy rõ lắm, anh đứng giữa sân khấu tràn ngập ánh sáng rực rỡ hào quang. Những bông hoa tươi tắn sang trọng được lồng trong giấy bóng kính đủ màu làm đôi tay anh luống cuống. Dư âm của bài hát anh vừa trình bày vẫn vang vọng quanh đây. Chưa bao giờ tôi được nghe anh hát hay đến thế, ngay cả những lúc có một mình tôi là thính giả của anh.

Tôi đứng yên, áp chặt những bông hoa bâng khuâng vào lòng để lấy lại sự tự tin và lòng bình tĩnh. Chẳng hiểu sao, trước niềm vui của người bạn thân đêm nay tôi lại có thể nhút nhát và run rẩy đến thế? Phía bên kia, anh đang có vẻ bận rộn với những cuốn sổ và dưới cây bút bi quen thuộc là hàng chữ ký ngả nghiêng, xiêu vẹo. Phải cố gắng lắm tôi mới có thể kiểng cao chân để nhìn thấy anh. Đúng ra tôi là người đầu tiên chia vui với anh thì mới phải. Chỉ tiếc cái cảm giác hạnh phúc đã từ lâu hôm nay mới ghé thăm đã làm tôi chậm chân. Một tích tắc thoáng qua, ánh mắt anh gặp mắt tôi kèm theo nụ cười mãn nguyện. Bó hoa bâng khuâng vẫn được tôi cầm chặt trong tay. Suốt cả buổi chiểu, tôi đã phóng xe ra tận ngoại thành rồi hộc tốc đạp về chỉ để tặng anh cánh hoa dại – loài hoa không tên chỉ có anh và tôi biết, chỉ dành riêng cho một con nhóc con nghịch ngợm và chàng ca sĩ sinh viên có giọng hát ngọt ngào…

- Em chờ anh lâu chưa?

Tôi khẽ lắc đầu.

- Không quan trọng, cái chính là anh đã thành công – chúc mừng anh.

Anh cười và nhìn tôi hồ hởi:

- Em cứ cầm lấy bó hoa đấy đi, anh có còn cái tay nào rảnh nữa đâu.

Tôi ngạc nhiên xen lẫn sự khó hiểu và ngầm đưa ánh mắt quan sát anh một lần nữa. Bó hoa được đưa ra đến nửa chừng lại quay trở về vị trí cũ. Có lẽ nào anh không nhận ra cánh hoa đặc biệt này? Cái màu đỏ hườm ánh lên sự sống xen một chút màu tím mơ màng mà đã thành cái tên hó bâng khuâng. Tôi cúi đầu lặng im. Những bông hoa vô duyên đến lạ. Giá như tôi có thể vứt nó đi để đỡ bực mình thì hay biết mấy.

- Hoa! Em không nghe anh nói à?

- Anh hỏi gì cơ? – Tôi giật mình hỏi lại.

- Chuyện ăn khao để đến khi khác nhé?

- Chúng ta đã qui ước là đi ngay sau đêm thi “giọng hát hay” cơ mà – Tôi phụng phịu.

Anh rút khăn lau mồ hôi trên trán, giọng có vẻ không hài lòng.

- Có người hẹn anh đi có việc.

Nhếch môi nở một nụ cười chua chát, tôi khẽ lẩm bẩm “Anh đã quyết định rồi đấy thôi”. Đám người mới đến ùa vào. Họ vây quanh anh tíu tít chào hỏi, xin chữ ký. Vô tình khoảng cách giữa anh và tôi trở nên xa xôi hơn. Cắn chặt môi, thật là thất vọng và buồn bã khi tôi nhận ra mình đã nghiễm nhiên trở thành người thừa, cái sân khấu hào nhoáng này không phải là chỗ để dành cho một con bé kỳ quặc như tôi. Cánh hoa dại trong tay héo rũ quá tội nghiệp trước ánh đèn màu chói lọi. Tôi lặng lẽ đi qua những hàng ghế chạy dài, lặng lẽ lắng nghe bước chân cô dơn của chính mình. Có lẽ tất cả đã thay đổi, chỉ có tôi là quá dại khờ nên mới tin vào những gì cũ kỹ mỏng manh.

oOo


“Em uống gì?” “Như cũ” “Nước cam?”. Tôi lắc đầu hờ hững “Nước quất mặn”. Anh ngập ngừng lúng túng “Lâu lắm rồi mình không đi cùng nhau. Anh quên”. Tôi lắc đầu. Không khí yên lặng bao trùm lên quán cà phê nhỏ. Anh bật lửa châm điếu thuốc rồi quay sang nhìn tôi “Gần nửa năm rồi không gặp, dạo này em sống thế nào?” “ Cũng bình thường” “Anh thì bận suốt ngày”. Tôi nhìn anh đang mải mê trình bày về một đống công việc mà cảm thấy nhàm chán vô cùng. Người con trai ngồi trước mặt tôi là Quang đấy ư, là người bạn thân đã từng chia sẻ với tôi tất cả niềm vui nỗi buồn trong thành công và thất bại? Quang ngày xưa luôn biết tôi thích gì, muốn làm gì. Chưa có bao giờ Quang quên dù chỉ là một chút nhỏ nhặt nhất trong thói quen của tôi.

- Hôm nay là ngày bao nhiêu hả Hoa?

- Mùng 2 tháng 3 – Tôi lúng túng trả lời. Nơi tận cùng của tiềm thức dâng lên một chút gì đó nửa như vui mừng nửa như chờ dợi và phải lấy hết can đảm tôi mới có thể chậm rãi đề nghị với anh.

- Anh Quang này, anh hãy hát lại bài hát ngày xưa anh viết tặng em đi “Hoa sữa vô tình trải thảm dưới chân, có hai đứa bé lạc vào vùng cổ tích”.

- Ôi cái bài hát ngớ ngẩn đấy nhớ làm gì cho mệt. Nếu em thích thì anh sẽ tặng em bài khác. À quên tối nay anh còn phải đi hát nữa đấy.

Câu nói thản nhiên của anh làm tôi ớn lạnh. Anh vô tư quá, xa lạ quá. Quang của con bé Hoa bây giờ đã hoàn toàn không còn nữa. Tình bạn cũng như một con người. Nó được sinh ra và lớn lên trong những tấm lòng đồng cảm. Và đến một lúc nào đấy nó chết đi giữa sự vô cảm của con người. Tôi đưa ngón tay chấm những giọt nước đọng ngoài thành ly vẽ loắng ngoắng lên mặt bàn. Quang đã về rồi. Mà có lẽ như thế thì tốt hơn vì tôi không quen với sự có mặt của người lạ trong sinh nhật mình. Lấy trong túi ra hai cây nến, truyền sang đó một ít lửa tôi khe khẽ hát lại những câu hát mà Quang tặng tôi vào đúng ngày này 4 năm về trước khi tôi tròn 15 tuổi “vùng cổ tích có bà tiên hiền hậu, có hoa sữa thơm và thắm đượm tình thương”.

Gói lại tập nhạc nhòe chữ và những cánh hoa hoang dại tôi nắn nót viết lên trên dòng chữ “Nơi an nghỉ của một linh hồn” với niềm tin linh hồn tình bạn sẽ bay đến cõi thiên đường. Nơi ấy có niềm vui, sự tin tưởng và lòng thương yêu.

Tình bạn đâu khác gì trò chơi chạy tiếp sức. Không có một ai tham gia từ bước chạy đầu tiên cho đến khi về đến đích mà mỗi người chỉ xuất hiện trong đoạn đường ngắn ngủi. Cũng như chiều qua trên con đường đi học tôi đã vô tình gặp Quang và tặng cho chàng ca sĩ nổi tiếng ấy một ánh mắt ngạc nhiên “Xin lỗi tôi không hề quen anh”.

Đêm, từng đêm tôi vẫn chăm chú ngước mắt lên bầu trời để tìm kiếm và trò chuyện với ngồi sao chứa đựng linh hồn tình bạn của tôi và Quang. Tôi không hề nuối tiếc về những chuyện đã xảy ra vì tôi biết ngôi sao ấy vẫn luôn nhấp nháy mỉm cười. Chắc chắn nó đang hạnh phúc.

Lời Ru Của Biển

Tác giả: Diệp Sương


Tôi ngồi trên triền núi thả hồn... “treo lơ lửng trên mây xanh” (Út Thảo nhà tôi thường chọc tôi như vậy). Chà! Chưa bao giờ tôi cảm thấy tâm hồn thoải mái như vậy. Ngày nghỉ hè đầu tiên đã giúp cho tinh thần tôi nhẹ nhõm đi nhiều sau một năm đèn sách trên giảng đường đại học. Dưới kia là biển, sóng to dội vào chân núi ầm ào. Hiện nay biển động nên bãi tắm vắng teo. Càng hay! Tôi thầm nghĩ, một mình một thế giới...
Xa xa một chấm nhỏ ẩn hiện. Có lẽ đó là cánh buồm? Quái, biển động mà thuyền cũng ra khơi sao? Bổng nhiên một bóng người nhỏ bé... ngang nhiên áp đảo tầm nhìn của tôi. Cánh buồm mất hút và tất nhiên là tôi phải quan sát... vật cản của mình với tâm trạng hơi tức tức. Nhất định tôi phải cho... vật cản này một “bài ca không quên” mới được. Nói là làm. Tôi tức tốc đi đến mục tiêu. Vừa tới nơi tôi đã lấy giọng... hùng hổ (cốt để áp đảo trái tim đang nhảy điệu Lambada của mình vì tôi đã nhận ra vật cản là một “yểu điệu thục nữ”).

- Ê, nhóc! Bộ hết chổ đứng hay sao mà lại đứng cản mũi người ta vậy?

Không có động tĩnh gì, chỉ có sóng biển ào ào. Vật cản vẫn đứng bất động nhìn ra xa. Tức mình, tôi hét to hơn:

- Có nghe không vậy? Ðiếc hả?

Vật cản từ từ quay lại. Trời! Suýt nữa sóng cuốn tim tôi. Chúa ơi! Khuôn mặt em mới hiền dịu làm sao, đôi mắt mở to đen láy và buồn mênh mang. Bộ váy đầm màu tím, chân trần trên cát, bím tóc “sừng trâu” buộc nơ tím ngúng nguẩy, lúc lắc... Ðó là chân dung của em. Tự nhiên tôi trở nên lúng túng trước vẻ thánh thiện đó.

- Tôi... tôi... ý tôi muốn nói là nhóc đã che khuất cánh buồm của tôi khi tôi dang theo dõi nó từ triền núi.

Tức thì bím tóc hất lên một cách bướng bỉnh, khuôn mặt bỗng chốc lanh lẹ, thách thức:

- Chỗ này đâu phải của anh mà tôi không có quyền đứng?

Tôi lầm? Lẽ nào chân dung của em thay đổi nhanh như vậy?

Thế mà khuôn mặt của em lại cuốn hút tôi. Tôi cố mềm mỏng:

- Nhưng... nhóc đã che tầm nhìn của tôi. Cánh buồm...

- Sao anh không tìm chỗ khác mà coi? Lạ kỳ! Bộ anh khùng hả? Biển động như vậy làm gì có thuyền mà có buồm?

- Vậy chớ đó là chi?

- Cột mốc.

- Là chi vậy?

Cô bé tròn mắt nhìn tôi:

- Anh không biết gì về biển à?

- Không, tôi rất ghét biển, tôi thích núi.

- Khùng! - Cô bé bỏ đi, không nói gì hơn. Tôi chạy theo:

- Sao nhóc gọi tôi khùng?

- Khùng!

- Nhóc...

- Tôi không phải tên nhóc.

- ... Tên gì vậy?

- Biển.

- Giởn không?

Cô bé khựng lại, quay nhìn tôi như thể vừa gặp vật thể lạ từ hành tinh khác. Tôi vội nói:

- Tôi tin em nhưng tôi không thích biển. À, chúng ta có thể làm bạn được không?

- Thôi được rồi, tôi đã có bạn nhưng thêm anh cũng không sao. “Thêm một người bạn là bớt một kẻ thù”.

- Nhóc nói hay quá! - Tôi hớn hở.

- Ðã bảo tôi không phải tên nhóc. Kỳ cục.

- Xin lỗi, tôi gọi em là Tím được không?

Cái trán dồ bướng bỉnh khẽ nhăn lại một chút rồi gật đầu:

- Tím? Thôi được, cũng không sao. Còn anh?

- Sơn.

- Là núi? Vì thế anh thích núi? Tôi lại rất ghét núi.

- Tôi cũng không thích biển chút nào. Còn gì thú hơn là ngồi trên núi phóng tầm nhìn của mình ra mọi nơi.

- Cũng chẳng còn gì tuyệt hơn là nghe tiếng sóng biển rì rào, êm ái như lời ru của mẹ. Làm sao có thể không thích khi được biển ôm ấp vỗ về và tỏa lên mình từng con sóng - Em bướng bĩnh cãi lại.

- Sóng biển lúc nào cũng ầm ầm mà Tím ví như lời ru của mẹ? Lảng nhách...

- Chứ sao. Tại anh không thích nên anh không nghe được biển ru...

- Ngồi trên núi tôi có thể nhìn thấy biển của em.

- Ở đây tôi cũng nhìn được núi, không những thế, biển còn ăn mòn cả núi. Anh nhìn chân núi kia kìa...

Tôi và em, cả hai ra sức tìm dẫn chứng để biện minh cho sở thích của mình. Cuối cùng tôi đành lắc đầu. Chịu! Không thể nào cãi được với em. Tôi cũng không hiểu tại sao tôi lại cãi với em như vậy, và chúng tôi quen nhau như thế đấy.

oOo


Tôi đi lang thang. Không biết ma đưa lối quỷ dẫn đường thế nào tôi lại đi ra biển. Bãi tắm đông nghẹt người, tôi đi vơ vẫn trên cát. Một màu tím đập vào mắt tôi. Ðúng là em rồi. Tôi chạy tới:

- Tím, em đi tắm biển hả?

- Hôm nay anh không lên núi à? Hay là anh cũng ớn núi rồi?

- Xì, còn lâu! Núi mãi mãi là niềm say mê của tôi. Nhưng hôm nay tôi thích thay đổi.

- Và... anh lại thêm một sở thích nữa, biển? - Cô bé nháy mắt tinh nghịch.

- Ồ, không! Anh yêu Biển chớ không thích biển - Tôi chỉ vào em và nhấn mạnh chữ biển đầu tiên.

Cô bé đùng đùng bỏ đi, không nói thêm một lời nào nữa. Chúa ơi! áo tím giận rồi... Tôi vội chạy theo:

- Xin lỗi, xin lỗi Biển nha! Anh chỉ đùa thôi mà. Ðừng giận nha.

- Xì... ai thèm giận anh.

Em bước ra xa hơn, đầu lắc lư đôi bím tóc màu tím. Biết em không hay giận lâu, tôi ngồi lại trên bãi cát nhìn em đùa giỡn với sóng biển và chợt ước mơ một lần nào đó sẽ thuyết phục được em lên núi... Ðồ khùng! Tôi tự mắng mình vì tôi tin không đời nào em chấp nhận.

Thời gian cứ trôi. Tôi và em dần dần thân thiết, nhưng cứ mỗi lần gặp nhau là y như rằng “chiến sự” xảy ra và lần nào tôi cũng là người thua cuộc. Có điều, lần nào gặp, tôi cũng thấy em mang trên mình toàn màu tím, tím đến nhức nhối... Em bướng bỉnh một cách đáng yêu nhưng có lúc lại hiền dịu như một con nai nhỏ, hay khóc và hay hờn mát. Tôi hài lòng và đôi lúc còn cảm thấy mình là kẻ hạnh phúc khi có em bên cạnh.

Một lần ra biển, thấy em ngồi bất động, mắt dõi xa xăm, tôi đến gần mà em không hề hay biết.

- Ù... oà! - Tôi hù em rồi cười to. Em quay lại cười mà như mếu, mắt em ngấn nước. Tôi vội im bặt và cảm thấy tiếng cười của mình quá ư lạc lỏng.

- Nghe anh hỏi nè, tại sao em thích màu tím vậy?

- Ðó là màu hy vọng của em - Ðôi mắt em buồn quá khiến tôi hốt hoảng.

- Ðừng buồn, anh không muốn làm em buồn đâu.

- Em đâu có buồn, em hy vọng...

- Em hy vọng gì vậy?

- Một gia đình hạnh phúc, bố mẹ yêu quý nhau và yêu quý con cái.

Tôi dè dặt:

- Em không có?

Cô bé lắc đầu. Và tôi hiểu, em không hạnh phúc trong gia đình, bố mẹ em không yêu nhau, họ sống với nhau vì nợ chứ không phải vì tình. Em chỉ hạnh phúc khi đứng trước biển, nghe biển ru...

- Anh biết không, em muốn mình tan ra trong biển. Em muốn biển mãi mãi ôm ấp em...

Tôi vội bịt miệng em lại:

- Ðừng nói gở, xui lắm.

- Thật mà, anh không tin sao?

Tôi bàng hoàng. Thực tế phũ phàng quá. Không muốn cho em phải có thời gian nghĩ đến những điều buồn, tôi bày trò:

- Em nghe chuyện không, anh kể cho nghe.

- Có, anh kể đi.

- Ngày xưa, xưa lắm có hai người yêu nhau...

- Thôi, em không nghe chuyện này đâu.

- Sao vậy?

- Chuyện tình yêu buồn lắm.

- Ðó là sự tích biển và núi đó.

- Vậy hả? Rồi sao anh? - Em đã vui thấy rõ. Tôi yên tâm kể tiếp:

- ... Họ yêu nhau nhưng không được lấy nhau vì chàng trai thì nghèo mà cô gái lại là con nhà quý tộc. Gia đình cô gái đã tìm mọi cách ngăn cản và đã bí mật đưa chàng trai đi thật xa, giam chàng ở đó. Vì nhớ người yêu nên chàng trai đã nhịn ăn uống và lâu ngày hóa thành đá. Dân làng biết chuyện đã đắp mộ “nổi” cho chàng, thành trái núi cao như vậy đó.

- Còn cô gái thì sao, anh?

- Cô gái sau một thời gian cũng biết chuyện và trốn nhà đi tìm chàng trai. Cô cứ đi, đi mãi, đến một ngày gặp trái núi kia thì cô đã kiệt sức, cô ôm lấy chân núi và khóc, nước mắt cô cứ chảy mãi, chảy mãi, vô tận. Cho đến khi thân cô không còn gì cả, thì nước mắt cô đã biến thành biển lớn, ngày đêm dội sóng vào vách núi như muốn ôm lấy chàng trai...

- Tội quá ha, anh?

- Vậy đó em à, không nên buồn vì còn có người bất hạnh hơn mình.

- Tại sao anh lại ghét biển?

- Có lẽ vì.. ba anh bị biển cuốn đi.

- Em muốn lên núi.

- Em nói thật? - Tôi không tin vào tai mình nữa.

- Vâng, nhưng không phải hôm nay, một ngày nào đó.

Tôi tin em nói thật và tôi hy vọng.

oOo


Bây giờ thì ước mơ của em đã thành hiện thực. Biển đã mãi mãi ôm ấp em. Em ra đi, ra đi mãi mãi. Tôi vẫn không tin rằng đó là sự thật. Trái tim tôi đau nhói. Em vẫn chưa được một lần lên núi. Chưa một lần có hạnh phúc trong gia đình. Mẹ em kể lại, bữa đó ba mẹ em cãi nhau, vì không chịu nỗi, em đã chạy ra biển, biển động dữ dội. Ba em giật mình chạy theo nhưng tất cả đã quá muộn... Tôi nghe môi mình mặn đắng. Giờ đây trong lòng biển có hai người thân của tôi: ba tôi và em. Lần đầu tiên tôi cảm thấy được tiếng sóng biển, ngọt ngào và da diết quá. Em đã mang đến cho tôi tình yêu với biển. Biển hôm nay dịu dàng, êm dịu quá. Lẽ nào ước mơ của em là hiện thực. Biển sẽ mãi mãi ru em, Tím ạ! Biển ơi!

Lời Cho Một Nốt Mi

Tác giả: Đoàn Thạch Biền


Tôi không biết một tí gì về âm nhạc và hội họa nhưng tôi rất say mê hai môn nghệ thuật này. Cái gì mình không biết rõ, mình rất dễ say mê đắm đuối, giống như yêu một người vậy.

Một anh bạn nhạc sĩ đọc xong truyện này đã cười nói: Cậu không viết về nốt mi, cậu viết về nốt mì. Nhẹ và thấp như một tiếng thở dài. 


oOo


- Anh sẽ mặc bộ veston màu gì trong ngày cưới của chúng ta ?

Nghe Mai hỏi, Trịnh uống vội một ngụm cà phê cho thấm giọng rồi trả lời:

- Anh đi thuê mà, gặp bộ nào mặc vừa thì mướn.

Mai lắc đầu:

- Thuê thì thuê, nhưng em thích anh mặc bộ veston màu kem có những đường sọc màu trắng trông sang hơn.

Trịnh bật cười:

- Tướng anh dù mặc áo dát vàng, trông cũng vẫn cù lần. Vả lại, một bộ veston như em đòi hỏi, dễ gì tìm thấy ở những tiệm cho thuê đồ cưới . Còn em, em sẽ mặc áo cưới màu hồng.

- Màu hồng ư ?

- Áo màu hồng hợp với bó hoa Maguerite trắng em cầm trên tay .

Trịnh hít một hơi thuốc dài rồi thở ra:

- Tùy em, mọi chuyện sẽ do em quyết định.

Mai khuấy lanh canh ly đá chanh rồi sôi nổi nói:

- Em quyết định phải không? Vậy anh hãy sáng tác một bản nhạc cho ngày cưới của chúng ta .

Trịnh trợn mắt:

- Sáng tác làm gì nữa . Anh sẽ đàn cho em hát bản The Wedding đã nổi tiếng khắp thế giới .

- Không, em muốn có một bản nhạc ngày cưới riêng của chúng ta do anh sáng tác.

- Dù rất dở?

- Cũng được. Nhưng của riêng chúng ta . Anh nhớ sáng tác nghe . Còn ba tháng nữa mà. Đám cưới của chúng ta sẽ tổ chức sau tết một tháng.

Từ hiên quán cà phê, Trịnh ngó mung xuống mặt sông Sài Gòn. Nước đen thẫm, lấp loáng ánh đèn từ trên bờ hắt xuống. Trịnh nói:

- Anh biết viết gì bây giờ?

- Về hạnh phúc của chúng ta .

Trịnh quay qua nhìn thẳng vào đôi mắt đen, to của Mai . Anh khẽ hỏi:

- Nó có khác gì với mọi người ?

Mai cười, ngả đầu vào vai anh.

- Nó rất khác vì nó của riêng chúng ta .

oOo


Những ngày gần Noel, trời Đà Lạt thật lạnh. Lạnh đến nỗi người ta khó mà khóc được, như thể nước mắt đã đóng thành băng ngay trong tuyến nước mắt. Đấy là lý do khiến đôi mắt Mai ráo hoảnh khi nghe người đàn ông hỏi:

- Còn một tuần nữa, đám cưới của chúng ta sẽ tổ chức tại đây . Em sẽ mặc áo cưới màu gì?

- Tùy anh quyết định.

- Em hãy mặc áo cưới màu trắng tay ôm bó hoa hồng nhung đỏ. Còn anh, anh sẽ mặc bộ veston màu kem có những sọc trắng trông rất sang. Bộ veston đó anh mang ở Mỹ về.

"Mình biết anh ấy rất căm giận. Nhưng biết giải thích làm sao bây giờ? Vì hoàn cảnh gia đình, vì lý do bất khả kháng, vì... chẳng có lý do nào hợp lý khi giải thích sự phản bội . Mình chỉ mong anh ấy tha thứ cho mình. Chỉ mong anh ấy sẽ nhanh chóng quên mình như mình đã quên..."

Mai khẽ lắc đầu . Người đàn ông vuốt tóc Mai, hỏi:

- Em không đồng ý à?

- Em đã nói tùy anh quyết định mà.

- Good! Anh sẽ thuê một ban nhạc chơi bài The Wedding nổi tiếng thế giới . Đám cưới chúng ta sẽ quay vidéo, để khi chúng ta qua bên đó chiếu cho gia đình, bạn bè của anh xem, mọi người sẽ thấy nó sang trọng không thua gì những đám cưới của người Việt tổ chức ngay tại Mỹ.

"Anh ấy đã hứa sẽ làm quà cho ngày cưới của mình một bản nhạc do anh ấy sáng tác. Mình sẽ không hát bản nhạc ấy trong ngày cưới cho mọi người nghe . Mình sẽ thầm hát trong trí tưởng tượng mỗi đêm cho mình và cho anh ấy nghe ..."

- Em có thích bản nhạc quốc tế The Wedding không?

Mai ứa nước mắt nói:

- Thích. Em rất thích.

- Very good. Nhưng tại sao em khóc?

- Trời quá lạnh đã làm em chảy nước mắt.

- Khách sạn này tệ thật, không có máy sưởi ấm. Qua bên đó dù ngoài trời tuyết đang rơi, ở trong phòng có máy sưởi vẫn ấm như thường. Hạnh phúc mà thiếu lò sưởi cũng dễ bị đóng băng lắm phải không em?

Người đàn ông bật cười thích thú với câu nói khôi hài của mình. Mai lập lại như người mất hồn:

- Vâng, lò sưởi cũng dễ bị đóng băng lắm.

oOo


Trong căn phòng nóng nực, Trịnh cởi trần ngồi đàn lại bản nhạc "Ngày cưới" do anh mới sáng tác. Phần nhạc đã xong, phần lời cũng gần xong. Chỉ còn một chữ cuối cho nốt mi. Tôi yêu Mai. Tôi yêu... em, tôi yêu... nàng. Tôi yêu... người. Trịnh phân vân không biết chọn chữ nào.

Đã bao giờ bạn thấy một người đàn ông hôn một người đàn ông chưa ? Thật buồn cười phải không? Vậy mà Trịnh đã ứa nước mắt khi anh hôn... anh trong tấm gương treo trước bàn. Rồi anh cúi xuống viết dưới nốt mi tròn như giọt lệ chữ: Tôi. 

Lớp Phó

Tác giả: Gai Xương Rồng


Ðó là thằng con trai cao nhòng nhòng như cây tre, mắt to “đại tướng” và có chiếc răng khểnh không chê vào đâu được. Thằng con trai này mới gia nhập vào vương quốc của tôi từ buổi sáng hôm qua. Người chi lạ kỳ, lễ gia nhập chẳng có cái gì gọi là... mỗi một câu giới thiệu cộc lốc ngang như cua:
- Tôi là Quang Khánh, thành viên mới của vương quốc ta và các quan muốn nhét tôi ngồi chỗ nào thì nhét.

Hết nói nổi, hắn ta cứ làm như mình là vua quan gì không bằng, đã vậy khi nói xong hắn còn nhe răng ra cười làm cho các nữ nhi của vương quốc đều chết lịm với chiếc răng khểnh ấy và tim tôi cũng hẫng đi một nhịp rồi mới co bóp bình thường... Quái lạ, tại sao vậy nhỉ, nụ cười của hắn có sức quyến rũ vậy sao? Hay hắn là phù thủy giả dạng? Chịu, chỉ nghe Trang lẩm bẩm: “Cũng khá đấy anh bạn ạ!”, còn Huyền thì thầm: “May mà trái tim tao đúc bằng kim cương, nếu không thì nó tan mất tiêu rồi, hú vía!”

Ở trên kia hắn vẫn đứng như phỗng, mắt tròn vo nhìn thần dân của tôi đang mơ màng chết lịm mà chẳng hiểu lý do tại sao, chỉ có Phương - anh chàng lớp phó lao động - là tỉnh táo nhất. Anh ta reo ầm lên như bắt được vàng... ngoài chợ vậy:

- Vâng! Xin mời bạn, thích ngồi ở đâu thì ngồi, thế là bọn mày râu tụi mình đã chẵn chục. Ha ha...

Ra vậy đấy, chả là trước kia bọn con gái luôn chọc bọn “đóng thùng” là quá ít, chỉ bằng số lẻ của bọn con gái mà thôi, tưởng đùa chơi ai ngờ bọn đó vẫn nhớ và hôm nay có cơ hội lên mặt với bọn áo dài. Tôi vênh mặt trả đũa:

- Nhưng chục mười hai cơ bạn ạ, đừng mơ sớm nhé!

Và ngay lập tức, cái miệng tôi và hai mươi tám cái miệng của bọn con gái đều tròn vo khi nghe tên lính mới trả đũa:

- Họ bán cá mới tính chục mười hai bạn ạ!

Tính lém lĩnh trong tôi bỗng trỗi dậy, ráng cười thật tươi, tôi nói:

- Vậy hả bạn? Thế mà tôi không biết đấy. Ủa, thế bạn đi mua cá thường lắm hả?

Cả lớp cười lăn khi thấy vẻ mặt hả hê của tôi và gương mặt đỏ như gất chín của hắn; và cả lớp còn bị lên ruột vì hắn gật đầu trả lời tỉnh queo:

- Tôi đi chợ hoài à!

Lý lịch trích... dọc của hắn được bổ sung thêm: thích đi chợ và khoái mua cá. Mặt đứa nào đứa nấy đỏ bừng vì cười rồi cuối cùng hắn cũng chọn được chỗ ngồi thích hợp cho thân hình... tốn vải của mình là ngồi ở góc lớp. Hắn cười toe không có vẻ gì phàn nàn về chỗ ngồi tối tăm mù mịt ấy. Và thật bất ngờ, từ tiết đầu tiên hắn làm cho cả lớp phải kinh ngạc, hắn học “siêu” tất cả các môn, từ Toán, Lý cho đến Sử, Ðịa, nhưng oái oăm thay môn Văn lại là môn cực hình đối với hắn, trong khi cả lớp rất khá môn này. Giờ Văn chúng tôi tiếp thu bài giảng cứ như là ăn một ly chè hoặc một ly kem ba màu, còn hắn mặt mày nhăn nhó như là đang uống thuốc... diệt chuột, ngó thấy thảm luôn. Trang cười:

- Ông trời có mắt hay sao ấy!

Còn Phương thì vỗ vai hắn ra vẻ thông cảm:

- Ráng lên mày, khéo mày ế... người yêu đấy!

Thu Hà lớp phó học tập chuyển sang trường khác học, và thế là cái ghế lớp phó học tập nghiễm nhiên rớt cái tỏm vào tay hắn vì chẳng có ai xứng đáng hơn. Cả lớp cười ra nước mắt khi nghe hắn nói lúc nhậm chức:

- Em hứa sẽ học giỏi à mà khá thôi môn Văn để thầy cô và các bạn vui lòng!

Anh chàng Phương thích chí cười khanh khách và tiện tay vò đầu hắn khiến cho mớ tóc rối bòng bong như cái tổ quạ, càng làm cho cả lớp cười sặc sụa, hơn cả khi xem phim hề Sáclô nữa.

Với chiều cao “lý tưởng” ấy, hắn làm được nhiều việc ra phết. Bọn con gái quét mạng nhện là hắn sẵn sàng cống hiến chiều cao để phục vụ lợi ích chung, và chính hắn đem về cho lớp chiếc huy chương vàng môn chạy 1.500 mét, hắn phóng đi ào ào khiến đối thủ chạy theo muốn đứt hơi nhưng chẳng thể làm gì nổi hắn. Lúc nghỉ mệt, tôi đem ly nước cam ra mời, hắn cười hì rồi hỏi chuyện tỉnh queo, như chẳng biết mệt là gì:

- Lớp trưởng ấy tên gì nhỉ?

- Lính mới mà không biết tên lớp trưởng sao? Họ tên là Ðậu Quyên!

- Ðậu Quyên? Sao không đặt là Ðỗ Quyên?

- Ðỗ hay đậu gì chả vậy, muốn biết rõ thì hỏi ba má tôi á. Cả lớp úa ra vây kín lấy hắn, đứa nào cũng săm soi chiếc huy chương vàng hắn mới nhận được rồi kéo nhau đi ăn chè. Phương hùng hồn tuyên bố:

- Từ bữa có mày tụi tao đỡ bị bắt nạt hơn đấy!

Huyền đốp lại ngay:

- Chớ hai mươi chín đứa con gái biết làm gì hơn? Nói vậy mà không biết dị!

Phương nhe răng cười hì hì xí xóa rồi tấn công tới tấp vô ly chè vô tội. Cả bọn tấn công ào ào như vũ bão, chẳng thèm để giành thời gian nghĩ rằng hậu quả của những ly chè này có thể sẽ dẫn cả bọn đi thẳng đến bệnh viện hoặc... bác sĩ tư. May mà chị bán chè có nụ cười xinh như mộng đã đứng cạnh đấy canh chừng, chớ không sẵn đà bọn tôi đã ăn luôn ly, muỗng, bàn, ghế. Hú vía, và cho đến bây giờ mỗi khi nghe ai nhắc đến chữ chè (dù vô tình hay cố ý) là tôi cứ run cầm cập như người bị sốt rét và bỏ cơm liền... bữa rữa vì quá sợ. Mà hình như đứa nào cũng vậy, đến nỗi chị bán chè sắp nẩy ra ý định dẹp tiệm vì ế kia mà! (Không tin bạn cứ hỏi... tôi thì rõ!)

Giờ Văn, mặt đứa nào cũng tươi hơn hớn, mặt của anh chàng lớp phó có khá hơn rồi thì phải. Cô vào lớp, với nụ cười trên môi nhưng không phải là nụ cười của mọi ngày (!?)... Vừa đặt túi xách xuống bàn, cô đã nói luôn:

- Giờ này cô trả bài cho các em thay vì học bài mới, cô sợ giữ xấp bài này lại trong nhà e sáng mai con trai cô phải mua vật liệu xây nhà sớm quá!

- Sao vậy cô?

- Răng rứa cô?

Cô vuốt vuốt mái tóc cố giấu nụ cười:

- Rồi các em sẽ biết.

Như thường lệ, cô nhận xét về chất lượng của bài kiểm tra và đọc mẫu những bài cao điểm hay những đoạn văn hay của bài nào đó. Cuối cùng cô bật mí!

- Có một em trong lớp ta đã làm một bước nhảy vọt khá cao, từ vũng trâu đằm của Việt Nam sang vùng đầm lầy của châu Phi. Các em nghe nhé!

Cả lớp cười sặc cụa ngả nghiêng theo từng lời cô đọc. Chúa ơi, chẳng có bài văn nào có thể hay hơn thế nữa, hình ảnh hình tượng được hình dung qua đôi mắt của người cận rất... rất nặng. Cả lớp biến thành cái chợ trời thật nhanh chóng với 101 kiểu cười, ha ha, há há, nhất là tiếng cười rùng rợn của Phương... “... Tổ quốc ta đẹp như một bông hồng sau cơn bão, vì đẹp nên bướm ong sẽ đến vây quanh. Nếu có thể em xin được làm một cành gai để bao bọc, chở che cho bông hồng khỏi bị sự... ve vãng của bướm ong...”

Cô lập lại trật tự lớp rồi nói:

- Câu văn rất sinh động phải không các em, nhưng đẹp như bông hồng sau cơn bão thì còn phải... xem lại đã, cô chưa thể quyết định được.

Có một gương mặt chuyển từ tái xanh sang đỏ hồng, anh chàng cứ vò mãi mái tóc của mình cho dù những sợi tóc đang kêu cứu thảm thiết. Nhiều con mắt dồn hết xuống cuối lớp nhưng chẳng ai nói một lời chế giễu chê bai, hết thảy đều thông cảm vì biết rằng anh chàng đang cố gắng vươn lên để thực hiện lời hứa của mình. Phương lên tiếng:

- Thôi đọc bài mới đi cô ơi, em buồn ngủ quá! ...

Và hôm nay cả lớp đã có mặt tại quán kem mới khai trương, bài kiểm tra Văn của lớp phó đã đạt tới con số tám tròn trịa đỏ chói, và tất nhiên bữa kem này do lớp phó tài trợ, ăn mừng mà lị! Ấn ly kem mát lạnh vào tay tôi, lớp phó nheo mắt cười:

- Mời Ðỗ Quyên, không phải “Ðậu” đâu nghen!

Những tia nắng cuối ngày len qua tán dừa chiếu vào chỗ chúng tôi, ly kem không còn là ba màu nữa mà đã thành nhiều màu sắc trộn lẫn.

Phương gào lên:

- Tổ quốc ta đẹp như một bông hồng trong trận mưa phùn rồi, nào nâng ly!

Và có lẽ chẳng bao giờ tôi lại ngán những ly kem hấp dẫn đến thế này! 

Lỗi Tại Ai?

Tác giả: Nguyễn Nhật Ánh


Một hôm, hai vợ chồng tôi đọc trong sách thấy người ta nói rằng nguyên nhân đưa đến những bất hòa trong gia đình thường do tính tự ái mà ra. Có nghĩa là mỗi khi trong nhà có sự cố gì xảy ra, cả chồng lẫn vợ thường đổ lỗi cho nhau. Ai cũng khư khư muốn giành phần tốt về mình và nằng nặc đòi nhường phần xấu, phần khuyết điểm cho người kia. Chính vì thiếu sự bao dung và thông cảm lẫn nhau như vậy, nhiều cặp vợ chồng đã đi đến cãi vã to tiếng, xích mích nghiêm trọng và cuối cùng giao kèo sống chung bị đổ vỡ một cách đáng tiếc.

Cuốn sách nói trúng phóc. Nghiệm lại những lục đục trong gia đình mình thời gian gần đây, hai vợ chồng thấy quả đúng y như vậy. Chung qui cũng tại tính tự ái mà ra.

Nhưng đó là lúc chưa đọc cuốn sách này kia, còn bây giờ hai đứa tôi đều cảm thấy thấm thía trước lời hay lẽ phải trong cuốn sách, hẳn cuộc sống nó phải tốt đẹp hơn chứ! Thế là hai vợ chồng tôi quyết định từ nay về sau, trước bất cứ vấn đề gì, trách nhiệm hàng đầu của mỗi chúng tôi là phải bằng bất cứ giá nào khám phá cho được những khía cạnh tốt đẹp của đối phương đồng thời ngược lại, luôn luôn tự giác nhận lỗi về phần mình. Sống ở đời, ai mà không có lỗi. Vấn đề là ta phải thành khẩn nhìn nhận. Ôi! Thế là từ nay xin chia tay những cơn xô xát, những lần hục hặc! Buồn ơi, vĩnh biệt nhé! Những thói xấu như các ngươi sẽ không còn đất sống trong nhà ta nữa đâu!

Sáng hôm sau, đang ăn cơm, tôi nhai phải một hạt sạn đánh “cốp” một cái. Hai hàm răng rung rinh, muốn rớt ra ngoài. Theo thói quen, tôi đặt bát xuống bàn, liếc nhìn vợ. Nhưng lời cằn nhằn chưa kịp thốt ra khỏi miệng, bất giác tôi chợt nhớ đến điều giao ước hôm qua. Thế là gương mặt đang sa sầm bỗng tươi lên hơn hớn. Và thay vì một lời nặng nhẹ, tôi đã nói một câu dễ thương hết biết, xứng đáng đưa vào tự điển bách khoa những lời vàng ngọc dành cho cuộc sống lứa đôi:

- Cái này là lỗi tại anh. Anh nhai mạnh quá! Nếu nhai từ tốn thì anh đã lừa được hạt sạn ra rồi. Xin lỗi đã làm phiền em!

Vợ tôi cười duyên dáng:

- Không! Anh có lỗi gì đâu! Lỗi là do em không chịu nhặt sạn trước khi vo gạo...

Tôi cướp lời:

- Nếu vậy thì đích thị là lỗi tại anh rồi! Bởi vì chính anh đi mua gạo. Ðáng lẽ anh phải chọn gạo kỹ hơn!

Vợ tôi nhất quyết không chịu thua:

- Ðúng ra hôm đó em phải cùng đi mua với anh, nhưng em đã không đi. Lỗi là tại em thôi!

Tới đây thì tôi không dám tranh giành với vợ nữa vì sắp đến giờ đi làm rồi, đành phải nhường phần lỗi cho cô ta. Tiếc thật! Nhưng tới khi thay đồ đi làm tôi phát hiện ra toàn bộ quần áo của mình đã bị gùi một đống trong ngăn tủ, cái nào cái nấy nhăn nheo như một mớ giẻ rách. Tôi tím mặt lại:

- Này, này, như thế này thì ai mà... – Nhưng trong tích tắc tôi kịp hạ giọng – Ai mà không biết là lỗi tại anh! Ðáng lẽ anh phải chừa một bộ đồ sạch để đi làm chứ! Ai bảo mặc dơ hết thì bây giờ... ráng mà chịu!

Thấy tôi tự lên án mình ghê quá, vợ tôi tỏ ý không bằng lòng:

- Không phải lỗi tại anh đâu! Lẽ ra tối hôm qua em phải ủi đồ...

Tôi lắc đầu quầy quậy:

- Tại anh! Tại anh! Ðúng ra anh phải nhắc em!

- Tại em! Tối hôm qua anh có nhắc nhưng em quên...

Tôi liếc đồng hồ và hiểu ra lúc này lỗi tại ai cũng không quan trọng bằng việc tới cơ quan cho đúng giờ. Tôi tròng vội bộ đồ bèo nhèo, rúm ró vào người và phóng ra khỏi nhà, bụng cứ tức sôi lên.

Công việc bề bộn ở cơ quan giúp tôi quên bẵng những bực bội ban sáng. Nhưng đến trưa thì mọi chuyện lại đâu vào đấy ngay. Tôi về nhà, bụng đói meo, thấy củi lửa lạnh tanh còn vợ tôi thì nằm tréo chân trên giường đọc sách, người tôi cứ muốn run lên. Tuy nhiên, tôi vẫn nhắc vợ bằng lời lẽ nhẹ nhàng nhất có thể có được trong lúc này:

- Em thân yêu, em chưa nấu cơm à?

Vợ tôi mở tròn đôi mắt:

- Ôi trưa rồi kia à? Chết thật! Em quên béng đi mất!

Rồi cô ta chép miệng:

- Cái này là lỗi ở em cả thôi!

Câu trả lời của vợ nhắc tôi nhớ đến nhiệm vụ hàng đầu của mình. Ngay lập tức tôi lục lọi trong óc cố tìm xem cái phần sai trái của mình nằm ở đâu trước vấn đề này. Chà, gay thật! Nhưng không sao, đợi cho một chút... À, à, có đây rồi, có ngay đây:

- Em không có lỗi gì hết! – Tôi hùng hồn - Lỗi hoàn toàn là do anh! Ðáng lẽ anh phải để đồng hồ ở nhà cho em coi giờ...

Vợ tôi khoát tay:

- Anh nói vậy chưa phải lẽ! Quả là lỗi tại em! Ðúng ra thì em phải chạy qua nhà hàng xóm để hỏi giờ chứ!

Tôi gân cổ cãi:

- Em còn bận nằm đọc sách mà chạy qua nhà hàng xóm sao được! Lẽ ra an phải dặn nhà bên cạnh hễ đúng mười một giờ trưa là qua kêu em nấu cơm, nhưng mà anh quên khuấy đi mất. Anh đúng là một người chồng vô trách nhiệm. Chính anh mới là người có lỗi.

Sau khi đấu tranh quyết liệt để giành phần lỗi về mình, tôi loay hoay đi nhóm bếp, còn vợ tôi thì vo gạo. Trước đây, trong những tình huống như vậy, chiến tranh đã bùng nổ từ đời kiếp nào rồi. Nhưng hôm nay mọi sự trôi qua một cách tốt đẹp, đầy lòng nhân ái. Tuyệt thật!

Nhưng chưa hết, buổi chiều mới thật là tuyệt.

Tôi đi phố về thì thấy giấy bay đầy nhà như bươm bướm. Tôi nhặt một tờ lên xem và đột nhiên thấy mắt mờ đi, còn tim thì thót lại như muốn xỉu tại chổ. Thì ra đó là những cuốn sách quý nhất của tôi, những cuốn sách tôi đã bọc gáy da cẩn thận và nâng niu, gìn giữ bao lâu nay. Tôi đã cất nó trong tủ kiến đàng hoàng, không hiểu sao nó lại tót ra đây và biến dạng thảm hại như thế này.

Tôi ôm đầu và rơi phịch xuống ghế, miệng thốt lên đầy hãi hùng:

- Trời ơi là trời! Ai đã giết tôi như thế này?

Ngay lúc đó, vợ tôi xuất hiện với câu nói đi trước:

- Lỗi là tại em! Lỗi tại em!

Tôi chồm ngay dậy:

- Lỗi tại ai thì để tính sau! Bây giờ em hãy cho anh biết tại sao những cuốn sách của anh lại ra nông nỗi này!

Tôi tưởng vợ tôi sẽ giải thích với thái độ áy náy và ngượng ngập. Nhưng không, cô ta nói bằng một giọng thoải mái, tự tin bởi vì cô ta biết rằng mình sẽ công khai và nhiệt tình nhận lỗi:

- À hồi chiều thằng bé nhà hàng xóm qua chơi. Nó cứ chỉ tay vào tủ đòi mấy cuốn sách của anh. Thế là em lấy ra đưa cho nó chơi. Dè đâu nó xé rách bươm như thế này. Lỗi này là do em cả thôi!

Tôi bóp mạnh hai tay vào thái dương cho đầu bớt nhức. Phải một lúc sau tôi mới nói được, giọng thều thào:

- Không phải tại em đâu! Lỗi là do anh không chịu đến tiệm làm đồ sắt.

- Tới đó làm gì? - Vợ tôi trố mắt.

- Ðể đóng gáy sắt cho mấy cuốn sách chứ để làm gì! Thật đúng là mọi sự đều do anh! Ai đời sách mà lại đóng gáy da bao giờ!

- Không phải đâu! - Vợ tôi tặc lưỡi - Nếu hồi chiều em không đưa sách cho thằng bé...

- Em nói sai rồi! Nếu anh không mua sách thì làm gì có chuyện! Rõ là lỗi của anh rồi!

- Em đã nói không phải do anh mà! Nếu lúc thằng bé đòi...

- Không! Trăm lần không phải lỗi nơi em! Tất cả là tại anh đây này! - Cuối cùng tôi gào lên - Nếu anh không lấy phải em thì đâu đến nỗi!

- Không phải đâu! Lỗi là do... – Ðang đà ăn nói nhỏ nhẹ, chợt nhận ra ý tứ trong lời lẽ của tôi, vợ tôi nhảy dựng lên và trong nháy mắt biến thành một con người khác – Hả? Anh vừa nói cái gì? Anh dám nói với tôi bằng cái giọng đó hả? Này, tôi bảo cho anh hay...

Vừa gầm lên, vợ tôi vừa tiến về phía tôi với dấu hiệu của một cơn bão cấp mười.

Trước tình thế nghìn cân treo sợi tóc đó, tôi phóng vù ra đường, không để cho vợ kịp túm tóc. Thật là nản! Cô ta đã gây cho tôi biết bao điều khổ sở rồi, tôi chỉ còn mỗi một niềm vui cỏn con là được nhận lỗi về mình, thế mà cô ta cũng đang tâm giành lấy nốt. Ðã vậy thì làm sao tránh khỏi bất hòa cho được. Quỷ tha ma bắt hết mọi thứ đi, nhận lỗi với chả nhận lỗi! Có lẽ muốn sống êm đẹp tốt nhất là cố gắng đừng làm những điều tồi tệ để rồi sau đó phải mất công xác định xem lỗi tại ai!


-1985- 

Lòng Mẹ

Tác giả: T-H-L


Mỗi lần xem ti-vi đến tiết mục quảng cáo, nghe người ta nói như đinh đóng cột rằng "Bệnh phong ngày nay đã được điều trị khỏi hoàn toàn", bà Ngọ lại bật khóc. Có người biết chuyện kể rằng:

Ngày ấy, khi đi lấy chồng bà Ngọ mới mười bảy tuổi. Năm mười tám thì bà sinh anh Hòa, rồi đến chị Thà, anh Lý, chị Mân. Năm chị Mân lên ba tuổi thì ông Ngọ qua đời. Từ ấy bà không tái giá, quần quật một mình nuôi bốn con nhỏ. Mười tuổi, Hòa đã biết theo mẹ ra đồng đắp bờ, gieo mạ, cấy lúa, gặt hái. Mười lăm tuổi, anh là lao động chính. Ngoài việc đồng áng, anh còn có biệt tài câu tôm, có thể nói là độc nhất vô nhị ở xóm Vàm Dinh này. Chỉ cần nhìn địa thế dòng nước anh sẽ đoán được tôm ở đó nhiều hay ít, đêm ấy anh câu được bao nhiêu. Khi lúa vào bồ xong, anh xuống ghe hết sông này tới rạch nọ, năm bảy ngày mới về nhà một lần, mang kè kè cái gọng tôm đầy ắp, đủ cho mẹ và mấy đứa em ăn đến lần về chuyến sau. Số tiền bán tôm được, anh đều đưa hết cho mẹ, cộng với mấy mùa lúa trúng liên tục, gia đình anh khá lên trông thấy. Ba đứa em anh được ăn học đàng hoàng. Năm anh mười tám nhiều gia đình ngấp nghé muốn gả con gái cho. Nhưng anh từ chối: "Để cho mấy đứa nhỏ học hành đến nơi đến chốn !".

Thế rồi, Hòa bỗng nổi lên một triệu chứng lạ. Mặt anh hồng hào, bóng lưỡng khác thường, trên người mọc nhiều chấm đỏ. Bà Ngọ đưa anh đi khám, người ta bảo anh bị bệnh cùi. Anh bàng hoàng đau đớn. Còn bà Ngọ tưởng chừng như ngất đi được. Người ta bảo bà đưa con vào trị cùi Hàn Mặc Tử. Bà cự tuyệt: " Nó ra sao đi nữa vẫn là con tôi !". Có người mách mài vàng cho anh uống, nó sẽ lì lại. Bà làm theo. Anh cương quyết không uống : " Từ đây về sau con không làm gì ra tiền nữa. Má để dành số vàng ấy cho mấy đứa nhỏ ăn học và dưỡng già !". Bà khóc, bất lực. Trong những ngày tay chân chưa bị rút, Hòa vẫn đi câu tôm. Nhưng tôm anh câu được bán chẳng ai mua, và chẳng ai còn mộng gả con gái cho anh. Người ta xa lánh anh. Ngay cả thằng Lý, con Mận cũng chẳng dám ăn tôm của anh. Chúng thấy anh ở nhà trên là rút xuống nhà dưới. Còn Thà học lớp mười ở trên huyện, mỗi lần về nhà cũng khạc nhổ lung tung. Đêm ấy đợi chúng ngủ hết, anh gọi bà Ngọ ra sân, bàn: " Má à ! Thân con bệnh hoạn, để tránh lây cho má và các em, con lên Nền Ngãi cất chòi ở riêng !". Nền Ngãi nó xứng đáng với tên gọi đó. Bởi mấy mươi công đất vô chủ mọc toàn là ngãi. Có truyền thuyết kể rằng, đó là ngãi bùa của một lão người Chà trồng để dùng vào việc gọi hồn bắt vía. Ngãi ăn toàn thịt gà. Khi lão ngươi Chà về Ấn, ngãi đói đã cuốn một chú mục đồng vào ăn thịt, khi chú đứng thả diều gần dó. Chuyện là hư, nhưng việc lại thực : không ai dám tới gần Nền Ngãi. Nghe anh Hòa nói, bà Ngọ khóc ròng :"Khộng dược Hòa ơi ! Con ở trên đó một mình đêm hôm gió máy làm sao má hay, má biết. Nếu được đổi mệnh cho con má đây cũng sẵn sàng, nói chi đến chuyện sợ lây !". "Con hiểu má ! Nhưng má phải thương cho ba đứa nhỏ. Nếu chúng lây bệnh tội lắm !". "Vậy má sẽ lên Nền Ngãi ở với con !". "Má còn phải lo cho ba đứa nhỏ !". Sáng lại anh Hòa lên Nền Ngãi phát bỏ một góc làm nền cất chòi. Cản không được, bà Ngọ nấu cơm đem lên và phụ anh một tay. Bà bảo ba đứa nhỏ nghĩ học ở nhà một ngày, thằng Lý ra vườn đốn cây, con Thà con Mận đốn lá, xé lạt, chầm. Chúng mừng rơn vì từ nay không còn bị ở chung với thằng cùi, nên đứa nào cũng làm việc cật lực. Nếu là ngày trước, phát ngãi đắp nền anh chỉ làm vài tiếng đồng hồ. Bây giờ tay chân anh không còn tuân theo lý trí, nên hai mẹ con làm quần quật từ sáng đến chiều mới xong. Anh Hòa về nhà chở cây lá lên dựng chòi ngay đêm ấy. Bà Ngọ bịt chổ này, chận chổ kia sợ gió lọt vào làm lạnh con bà. Đến sáng căn chòi mới hoàn thành.

"Ra ở riêng", anh không mang theo thứ gì quý giá, chỉ lấy chiếc ghe, bộ đồ nghề câu tôm, cây len, bộ ván, cái mùng cũ và xin bà Ngọ mua cho cái võng mới. Mới đầu anh định đem xoong nồi tự nấu, nhưng bà Ngọ bảo sẽ đem cơm lên cho anh ngày hai bữa. Anh Hòa lên Nền Ngãi, bà Ngọ cảm thấy căn nhà sao trống trải lạnh lùng. Đêm nào bà cũng khóc. Mặc dù ngày hai lượt bà đem cơm lên Nền Ngãi và cũng hai lượt đem tôm trở về. Bán chẳng ai mua, ba đứa nhỏ thì không dám ăn tôm của thằng cùi, chỉ mình bà ăn. Bệnh của Hòa ngày càng lan, tay chân rút lại, vấn thuốc một cách khó nhọc. Thấy vậy bà vấn sẵn mươi mười lăm điếu đem lên mỗi ngày. Cứ mỗi lần thè lưỡi liếm giấy quyến cuốn lại cho chặt là bà ho sặc sụa. Riết rồi cũng quen. Bà nghĩ vấn thuốc đã khó, hẳn câu tôm lại càng khó hơn. Bà bảo anh đừng đi câu tôm nữa. Bà đã ngán lắm rồi. Chiều ấy bà thấy tay anh chảy máu dường như bị vật gì đó cọ xát vào vết thương. Bà xé vạt áo băng lại cho anh và chống xuồng vào xóm mua thuốc nhức, thuốc cảm. Bà nói: "Hòa à, đêm nay má ngủ lại đây với con !". "Dạ !". Giọng anh không còn trong, mũi đã xẹp. "Má ngủ trên võng nghen !". Cái võng đêm đầu tiên dựng chòi anh giăng. Nhưng chưa bao giờ anh nằm, chỉ dành cho bà Ngọ ngã lưng, mỗi khi bà đem cơm lên. Bà nói : "Thôi, để má ngủ chung với con !". "Con không quen ngủ chung với ai má à !". Bà hiểu ý con, sợ lây bệnh cho mẹ. Bà bước đến giường, sập mùng : "Để má đập muỗi cho con ! ". "Đừng má ! Mắt má lem nhem ! Không khéo cháy mùng, rồi cháy chòi con mất !". Bà không muốn làm trái ý đứa con tội nghiệp, nên xuống võng nằm. Anh hỏi :"Mấy đứa nhỏ năm nay lên lớp hết không má ?". "Lên hết !" Con Thà sắp thi hết cấp ba rồi. Nó học giỏi lắm. Năm nào cũng được khen. Hai đứa kia cũng vậy !". Anh hỏi thăm bà con ở trong xóm và nhắc mẹ mùng 9 tới đám giổ ba. Được một lúc anh thiếp đi, vì trong thuốc cảm có kèm thuốc ngủ. Bà rón rén bước tới, giở mùng, chung vào ngồi bó gối nhìn thân hình tàn phế của con qua những giọt nước mắt lăn dài, bất lực. Và bà thầm trách những đứa con khỏe mạnh, chúng là một lũ vô ân bạc nghĩa, ăn ở không nghĩa không tình. Từ ngày anh hai nó lên Nền Ngãi ở đến giờ chẳng đứa nào vác mặt lên thăm, thậm chí chẳng hỏi bây giờ bệnh tình anh nó ra sao ? Còn gì là đạo lý, hả trời ! Chúng đang ăn học là tiền của ai ? Của anh chúng khi còn khỏe mạnh làm ra cả thôi ! Phải chi anh Hòa không bệnh, hẳn bây giờ bà đã có một hai đứa cháu nội ẵm bồng. Người ta thường nói, ở hiền gặp lành. Không ! Bà không tin ! Con bà đó, ở hiền hiếu thảo, sao chẳng gặp lành ? Và bà ngồi như vậy cho đến khi trời sáng.

Sáng hôm mùng chín, con Thà vừa mở cửa đã thấy một giỏ tôm đầy ắp để trước hàng ba. Nhìn giỏ tôm bà Ngọ khóc : "Anh hai mày đem về cúng ba mày đó !". Chúng nó đứa thè lưỡi, đứa so vai. Chẳng đứa nào dám đụng vào giỏ tôm. Bà Ngọ tự làm lấy đem lên bàn thờ cúng ông Ngọ : "Ông ơi ! Ông có linh thiêng hãy về đây chứng giám cho lòng thành của đứa con tàn tật và phù hộ độ trì cho nó !".

Mùa hè đến, cả ba đứa con Thà, thằng Lý, con Mân đều ở nhà. Đêm qua bà Ngọ bị sốt, sáng dậy không nổi, bà bảo chúng đứa đi chợ, đứa nấu cơm, đứa đem lên Nền Ngãi cho anh hai. Đứa nào cũng dành đi chợ hoặc nấu cơm và từ chối việc đem lên Nền Ngãi. Bà quát : "Lũ súc vật ! Chúng bây không có tình người ! Còn ở đó cải nữa tao giết không còn một đứa !". Song bà chỉ định, con Thà đi chợ, con Mân nấu cơm, thằng Lý đem lên Nền Ngãi. Thằng Lý quạo quọ, mặt chù bụ như cái mâm : " Đem thì đem !". Còn mấy trăm thước nữa mới tới Nền Ngãi, nó đặt xoong cơm, dĩa cá kho và tô canh bí lên bờ mẫu, gọi to lên : " Anh hai ơi ! Ra lấy cơm !". Nghe gọi, anh biết ngay thằng Lý, từ lúc lên đây tới giờ anh chưa gặp nó. Anh nhớ nó cồn cào. Nhiều lần anh định nói với má kêu mấy đứa nhỏ lên cho anh thăm, nhưng lại thôi. Sợ em thấy mình tàn phế nó buồn. Anh cố sức chạy ra khỏi chòi và gắng giọng hét lên: "Anh hai nghe rồi Lý ơi !". Nhưng khi anh ra được tới chỗ để cơm thì thằng Lý đã quay mũi xuồng vào xóm chống đi như ma đuổi. "Lý ! Lý ơi !". Anh chạy theo, lại té lăn cù xuống ruộng. Anh gượng đứng lên : "Lý ơi ! Dừng lại anh hai nói cái này !".

Nó vẫn chống sào xé nước. "Má đâu ?". Vẫn không quay đầu lại, nó đáp : "Má bệnh !". Anh đứng lặng lẽ nhìn theo đến khi chiếc xuồng khuất trong bờ lá. Anh chậm chạp, nặng nề quay lại bưng xoong cơm về chòi. Không ăn ! "Không biết má bệnh gì ? Có nặng lám không ? Má uống thuốc gì chưa ? Mấy đứa nhỏ chăm sóc má có chu đáo không ? Má ăn cơm hay ăn cháo ? Mình phải về nhà thăm má ngay. Nhưng không được ! Người mình lở lói như vầy. Tối mình sẽ về ... sẽ về !". Anh ngồi bên cửa chòi trông mặt trời nhích dần ... nhích dần tưởng như từng ly một. Từ khi sinh ra, lớn lên cho tới bây giờ anh mới thấy một ngày dài. Mặt trời ơi ! Hãy quay nhanh thêm chút nữa ! Nếu như có Đấng Tối Cao, người bảo rằng : "Hỡi tên cùi khốn khổ kia ! Ta sẽ cho ngươi toại nguyện một trong hai điều : Hoặc là ngươi lành bệnh, hoặc là mặt trời lặn ngay !". Anh sẽ bảo :"Xin thưa ! Con chọn mặt trời lặn ngay !". Rồi chiều cũng dần buông theo quy luật tự nhiên. Mọi khi nghe tiếng cúm núm kêu chiều anh buồn não ruột, giờ lại thấy vui. Vừa chạng vạng tối, anh ép cây sào giữa hai bàn tay còi cọc, khổ nhọc chống chiếc ghe đi. Anh neo ghe lại một khúc vắng cách nhà hơn ba trăm thước rồi lên bờ lê bước về nhà. Kia rồi ! Căn nhà anh đã sống gần hai mươi năm, ẩn mình dưới một tán còng rộng lớn. Cây còng anh đã bứng từ sau hè đình đem về trồng từ mười năm trước. Tim anh như muốn vỡ. Căn nhà - Nền Ngãi cách nhau không đầy ba cây số, vậy mà suốt ba năm ròng rã anh mới được về thăm. Giá mà bây giờ là ban ngày để anh nhìn rõ từng viên gạch lót nền, nẹp tre, tàu lá. Bổng có ánh lữa phát ra từ con cúi, cầm con cúi là một người đàn bà, đứng bên cạnh người đàn bà là con Thà : "Chà, con Thà mau lớn quá, cao bằng má rồi còn gì !". Anh muốn chạy đến với nó. Không thể ! Nó nói : "Cảm ơn bác hai tới thăm má con !". "Bây sao màu mè quá ! Chỗ xóm giềng với nhau ! Khi má mày khi tao ! Nè, dạo này tao thấy má mày có cái gì hơi khác khác. Coi chừng bả lên Nền Ngãi hoài lây thằng Hòa đó ! Thôi, bác hai về !". "Dạ !". Anh nhận ra tiếng bà hai Hội. Dường về nhà bà phải đi ngang qua chỗ anh đứng. Anh vội nhảy xuống bờ lá, thu mình co ro giữa mấy buội bập bè, muỗi bị động ổ vây lấy anh như hốt trấu vãi lên người. Bà hai Hội bổng dừng lại nói với con Thà còn ở giữa sân : "Tao thấy có cục gì đen đen mới lăn xuống dám lá !". "Có gì đâu, bác hai !". "Thiệt mà !". "Bác nói thấy ghê !". "Chắc là ma !". "Không đâu bác ơi ! Chắc tại bác quơ con cúi, bóng mấy tàu lá dừa dọi xuống !". Bà hai Hội bước gấp đi. Anh tự hỏi : "Mình là ma sao ?". Câu nói của bà cứ văng vẳng bên tai anh " ... coi chừng bả lên Nền Ngãi hoài, lây thằng Hòa đó !". Trời ơi ! Lẽ nào tôi đã gieo rắc căn bệnh quái ác này cho má tôi ? Má ơi ! Hãy tha lỗi cho con ! Con sẽ không làm khổ má nữa đâu ! Hòa bước lên bờ, quay trở lại ghe được một đoạn. Không, mình phải gặp má, phải thăm má. Cả ngày nay mình trông đợi trời tối. Mình phải biết bệnh tình của má ra sao ? Anh quay trở lại và nép mình bên gốc cây còng. Nhà đã đóng cửa, không thấy gì được bên trong, anh cố lắng tai nghe xem có tiếng mẹ. Hình như mẹ đã ngủ, chỉ mấy dứa em còn thức. Con Thà :"Hồi sáng mầy có gặp anh hai không ?". Thằng Lý :"Em đâu dám nhìn ! Em để cơm lên bờ mẫu rồi chống xuồng về !". Con Mân : "Không biết ngày mai má phân công ai đem cơm lên cho ảnh ?". Con Thà : "Mầy là cái chắc !". Con Mân : "Trời ơi ! Ghê quá ! Vái trời cho má phân công chị !". "Đừng trù xui !". "Nho nhỏ, má nghe được, bả chửi bây giờ !". "Phải rồi ! Hồi chiều thằng Lý không lên trển lấy xoong về, sáng mai lấy gì dở cơm đem lên !". "Lấy cái khác !". "Đặng bỏ thêm cái nữa hả ?". "Tại chị kỷ chứ mấy lần anh hai ăn cơm không hết, má đem về hấp lại bả ăn, có sau đâu !". "Mầy nói tao mới nhớ, hồi nãy bác hai nói coi chừng má lây anh hai đó !". "Má lây anh hai thì chỉ có nước em bỏ nhà đi thôi !". "Tao cũng vậy !". "Tao cũng vậy luôn !". Hòa nghĩ, vì mình mà cả gia đình phải khổ sở như vậy. Không nghe tiếng đứa nào nữa, anh đoán chúng đã đi ngủ. "Chắc không đứa nào dám ngủ với má. Vì sợ mình lây bệnh cho má, má lây qua tụi nó. Có lẽ chúng đang lo sợ không biết mai má phân công ai đem cơm lên Nền Ngãi cho anh hai. Các em ơi ! Anh hai sẽ không làm phiền các em nữa đâu !". Anh núp bên gốc cây còng, mặc cho sương rơi ướt người, anh muốn uống lấy tất cả những kỷ niệm để rồi mãi mãi anh sẽ đi xa.

Hơn nữa đêm, chờ cho các em ngủ say anh mới dò dẫm bước vào hàng ba đưa tay cạo vách, sát bộ ngựa gỗ mà mẹ đã ngủ từ thuở mới gặp ba. Cào đến lần thứ hai thì anh nghe tiếng mẹ trở mình. Anh gọi khẻ :"Má ! Má ơi !". Bà Ngọ ngồi bật dậy, quát hỏi :"Đứa nào ? Đứa nào vừa kêu má ?". Ba đứa nhỏ thức giấc, bước tới giường bà :"Má chiêm bao thấy gì mà mớ lớn dữ vậy ?". "Má vừa nghe có đứa nào kêu "má ơi !". "Má nằm mơ đó, có ai kêu má đâu !". "Thôi, má ngủ đi !". Bà Ngọ nằm xuống, tụi nó cũng đi lên giường ngủ. Bà không sao chợp mắt được, linh tính của người mẹ báo cho bà biết tiếng kêu má bà vừa nghe không phải là trong mơ. Đến gà gáy canh ba thì bà lại nghe :"Má ! Má ơi!". Bà phóng xuống giường : "Mấy đứa ơi ! Anh hai mầy về !". Đứa lớ ngớ, đứa đốt thêm đèn. Lo các em sợ hải khi thấy mình, anh liền vòng ra phía sau nhà, chạy tuốt ra bờ kênh. Bà Ngọ lúi húi mở chốt cửa dưới và quát : "Mở chốt trên dùm tao !". Mấy đứa nhỏ bước tới hàng ba chúm lại, mắt dáo láo liên đề phòng anh hai. Bà Ngọ xách đèn cốc bước ra sân gọi :"Hòa ơi ! Con ở đâu ? Sao không ra gặp má ? Má biết là con về ! Má có lỗi với con, vì mấy hôm nay má bỏ con một mình ! Con ơi ! Hãy hiểu cho má. Vì mấy đứa em con còn nhỏ. Bây giờ chúng đã lớn hết rồi ! Ngày mai má sẽ lên Nền Ngãi ở với con. Má sẽ chăm sóc con, Hòa ơi ! Ra đây với má đi con ! Má thương con mà Hòa ! Hòa ơi ! Ra đây đi con ! Con không thương má thì con về đây làm chi hả Hòa ?". Im lặng. Bà Ngọ ngồi xuống quơ tay lên đầu tóc mượn, lấy cây móc tai xỉa tiêm đèn lên cao, rồi lội xuống đám lá tìm Hòa. Cây đèn bị gió thổi tắt. Con Thà nắm tay bà dắt lên. "Má ơi ! Má nghe ai kêu ai ở đây há, rồi má tưởng anh hai !". Bà quát : "Câm mồm ! Tao đẻ nó ra, làm sao tao không nhận ra tiếng của nó chứ ?".

Một lúc lâu sau bà Ngọ mới chịu lên nhà. Nhưng bà không ngủ, lúi húi thu xếp đồ đạc quần áo, xoong nồi, chén dĩa, củi đuốc dể sáng mai lên Nền Ngãi ở với anh Hòa. Mấy đứa nhỏ chẳng đứa nào dám cản bà. Không biết chúng sợ bà chửi hay sợ bà đã lây bệnh của anh . Bà chồng chất lũ khũ một đống trước hàng ba. Vừa tờ mờ sáng trời đã đổ mưa. Mưa mỗi lúc lại nặng hạt. Gió giật từng cơn làm bà không sao đi được. Mãi đến hơn chín giờ mưa mới tạnh. Bà dọn đồ xuống xuồng. Bà bước đi một cách khó nhọc trên nền đất bùn nhão nhẹt ngoài sân. Cuối cùng thì bà cũng đem được những thứ đã chuẩn bị xuống xuồng. Chống di ! Xuồng cập bến Nền Ngãi bà không dám gọi con như mọi khi, bà nghĩ, trời mưa lạnh chắc nó đang ngủ. Nách bà cặp bó củi, hai tay bà xách xoong chảo bước lên chòi. Cái mùng đã vắt lên rồi mà con bà đâu không thấy. Lạ chưa ! Bà gọi :"Hòa ơi !". Cũng không nghe anh trả lời. Cái ghe đậu dưới bến kia. Nó đi đâu ? Bà gọi thêm một lúc nữa không nghe con trả lời. Bà đâm hoảng ! Bà càn vào những bụi ngãi cao ngang đầu người. Vừa càn bà vừa la làng :"Bớ làng xóm ơi ! Con tôi mất tiêu rồi !". Tiếng la vọng vào xóm kinh Ông Hào. Lũ trẻ ở kinh Ông Hào chạy qua xóm Vàm Dinh kêu con Thà, thằng Lý, con Mân. Chúng nó và vài người đàn ông trong xóm chạy lên :"Chuyện gì vậy bà Ngọ ?". "Thằng Hòa mất tiêu rồi !". Và gào thét. Thấy tội, người ta vạch ngãi tìm với bà. Được một lúc bà bỗng thét lên :"Trời ơi ! Con tôi !". Người ta chạy đến thì bà đã nhảy xuống một cái huyệt được đào sẵn từ bao giờ, trên thềm huyệt còn vức lại cây len. Anh Hòa nằm quay đầu về phía Tây, mặt ngửa lên. Tất cả kêu rú lên kinh hãi rồi lui ra xa. Bà Ngọ xốc anh Hòa lên tay, người anh còn mềm nhũn, oằn oại. Bà đặt anh lên thềm huyệt trước rồi leo lên sau. Bà lại bồng anh lên, chạy vào chòi. Người ta không hiểu bà Ngọ ốm yếu nhỏ thó như vậy, tại sao lại thực hiện những động tác ấy một cách nhanh nhẹn, gọn gàng. Bà đặt anh lên giường cởi quần áo, lau chùi, thoa dầu đánh gió, giật tóc mai. Mọi việc ấy chỉ mình bà làm. Người ta túm tụm lại ở ngoài sân chòi. "Hòa ơi ! Tĩnh lại đi con ! Má lên đây ở với con nè ! Con chết rồi má ở với ai ? Sao con im lặng, không nói chuyện với má hả Hòa ? Con còn giận má hả, con ơi !". Một người đàn ông lên tiếng :"Sao tụi bây không vô trỏng kéo chị Ngọ ra ? Thằng Hòa chết lâu rồi !". Cả ba đứa chạy vào chòi, lôi bà ra sân. Đứa nào cũng nôn thóc, nôn tháo. Bà hét : "Buông tao ra ! Tao lên đây ở với thằng Hòa !". Bà cào cấu, cắn xé ba đứa nhỏ rồi ngất lịm đi ! Người hàng xóm phân công :"Con Thà, con Mân đưa bà Ngọ về nhà chăm sóc, đừng cho bả chạy lên trên này, thằng Lý theo tao về nhà lấy ghe ra chợ nhắc hòm !". "Má con cất tiền không biết chỗ nào !". "Nhắc chịu, mai mốt tính !".

Cái tin "Cùi Hòa" chết chẳng mấy chốc lan truyền khắp cả xóm. Khi biết để anh trên Nền Ngãi người ta mới dám đến nhà bà Ngọ chia buồn. Không biết ngày ấy bà tỉnh rồi ngất, ngất rồi tỉnh bao nhiêu lần. Khi tỉnh bà bảo phải đem anh Hòa về nhà khâm liệm. Người ta khuyên bà nên giữ vệ sinh chung. Một vài người đàn ông mặc áo cao su, mang găng tay, bịt mồm bịt mũi bằng đủ thứ loại khăn, trây trét dầu cù là khắp người, rồi đưa hòm lên Nền Ngãi tấn liệm anh Hòa. Khi những người đàn ông đã dắp xong mộ trở về thì những người đàn bà mới buông bà ra. Bà chạy bộ lên Nền Ngãi, băng qua con kênh, lăn đùng ra mô đất mới cào bới, rồi ngất lịm đi.

Người ta đốt bỏ cái chòi hôi hám, bệnh hoạn.

Một tháng sau ngày anh Hòa chết bà Ngọ mới lê bước xuống giường. Và hai tháng sau nữa bà mới cầm chiếc lược gỡ mái tóc rối tung, bùi nhùi như ổ rơm.

Năm nay bà Ngọ đã bảy mươi. Các con bà ai cũng có địa vị, nhà cao cửa rộng trên tỉnh, trên huyện. Mỗi lần họ về đều bàn việc đưa bà lên tỉnh, lên huyện ở, nhưng bà từ chối :"Tụi bây đủ lông đủ cánh hết rồi, ăn đâu ở đâu thì mặc. Còn tao ở đây hương khói cúng kiếng cho ổng với thằng Hòa !". Các con bà biết ép cũng không được. Chị Thà cho đứa con gái mười sáu tuổi xuống cơm nước cho ngoại. Thanh minh năm nay chị Thà, anh Lý, chị Mân về đầy đủ. Bà nói :"Mai là ngày tốt, tụi bây lên Nền Ngãi lấy cốt anh hai bây về cho nó nằm gần ổng, sau vườn ". Các anh chị nhìn nhau im lặng, ai cũng sợ khơi lên cái ổ vi trùng làm ảnh hưởng môi trường. Cuối cùng chị Thà nói :"Anh hai nằm ở đó đã hai chục năm rồi ! Dời tới dời lui chi cho động mồ mả !". Anh Lý phụ họa : "Anh chết như vậy chính quyền người ta không cho đào bới lên đâu !". Chị Mân thêm vào: " Chị Thà, anh Lý nói phải đó má ! Hay để tụi con hùn tiền xây cái mã đá !". Bà Ngọ quát : "Thôi thôi, không làm phiền mấy người ! Mấy người không làm thì để tôi tự làm !". Biết tính bà Ngọ nói thì làm. Trời chưa sáng rõ các anh chị cáo từ lên tỉnh lên huyện với nhiều lý do khác nhau. Họ không muốn ở lại để nghe người đời nguyền rủa, để cho bà già đi bốc mộ một mình. Chị Thà không quên nói với bà Ngọ cho con gái chị về tỉnh trông em vài ngày để chị đi công tác ở Vũng Tàu. Bà cũng chẳng cần giữ lại làm gì.

Bà mướn mấy tay thanh niên ở xóm lên Nền Ngãi bốc mộ anh Hòa, đào cái huyệt bên cạnh mộ ông Ngọ và đóng cái quách đựng hài cốt. Hai việc sau thì họ nhận làm dùm, còn việc trước thì họ từ chối cho dù bà có ra giá bằng một tháng tiền công. Không làm thì thôi, để tự bà. Cái quách đóng một chút đã xong, bà đem bỏ xuống xuồng và mang theo bánh mứt, nhang đèn, len cuốc, xô chậu ... bơi lên Nền Ngãi. đến mộ anh Hòa, bà bày bánh mứt đốt nhang khấn vái :"Hòa ơi ! Bữa nay má đem con về nhà. Nếu có linh thiêng phù hộ cho má khỏe mạnh, đào mau thấy con !". Bà bắt đầu cuốc. Từng nhát cuốc giơ lên bổ xuống rất khó nhọc, nhưng bà lại không thấy mệt mỏi chút nào. Bà cuốc và cuốc mãi ... cuốc mãi ! Lúc mặt trời ngã bóng thì ló ra một mảnh ván. Bà khóc. Bà nghĩ tay, uống nước rồi lại cuốc. Đến khi con nhắc nhen kêu thì bà đã cạy lên được từng mảnh ván vụn của nắp hòm mục ruỗng. Bà lại khóc. Nước mắt và máu từ đôi tay bà rơi vào một dòng nước trong xanh thấy rõ từng dốt xương người. Kia là mảnh xương sọ, kia là những chiếc xương sườn, kia là đôi xương ống chân... Bà bước vào dòng nước ấy nhặt nhạnh từng dốt xương, lau chùi sạch sẽ chất vào xô. Bà làm xong việc thì hoàng hôn đã bao trùm lên vạn vật. Bà lọ mọ xách cái xô chứa hài cốt anh Hòa xuống xuồng chất vào cái quách đã lót sẵn cao su. Xong bà đóng nắp quách lại. Bơi xuồng về nhà.

Đêm !

Dưới lòng đất tiếng côn trùng nỉ non ai oán, xa xa tiếng vạc ăn đêm kêu sương buồn tẻ, trời âm u vần vũ, lác đác một vài vì tinh tú nhạt nhòa cô độc, thỉnh thoảng một ngôi sao băng xẹt qua rồi mất hút giữa màn đêm băng giá, leo lét mấy ngọn đèn cầy mờ ảo cắm trên chiếc quách soi đường cho bà Ngọ đặt dầm đạp nước đưa con về nhà. Bà ỳ ạch, khó nhọc đẩy cái quách lên bờ, ra sau vườn nơi có cái huyệt mấy tay thanh niên đào sẵn. Bà gắng sức đặt được cái quách xuống đáy huyệt. Xong bà lấp đất. Lấp mãi ! Mưa lắc rắc ! Mưa nặng hạt ! Nước mưa tan trong những giọt nước mắt của bà. Bà lấp mãi cho đến nữa đêm thì đầy huyệt. Bà lấp mãi cho đến gà gáy sáng đã thành một mô đất nhô cao.

Bà áp mặt lên ngôi mộ mới thầm thì :"Hòa ơi ! Giá mà thuở ấy có thuốc như bây giờ!"


Sóc Trăng
T-H-L



D,L : "... Lòng mẹ thương con vô bờ - vô bến.....!"
Nhà thơ Y Vân có viết:
" ........
Lòng mẹ thương con như biển Thái Bình dạt dàọ...
...... Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào..."