Monday, August 1, 2011

Vị thần đầu voi Ganesh

Ganesh
Ganesh ngồi trên hoa sen đỏ

           Ganesh là vị Thần rất được tôn thờ, và cũng dễ nhận ra nhất, với cái đầu voi và cái bụng bự. Có ít nhất là bốn thuyết nói về nguồn gốc của Ngài.

            Thuyết thứ nhất cho rằng Shiva tự mình tạo nên Ganesh. Tuy nhiên, Ganesh quá đẹp trai, khiến vợ của Shiva cũng phải mê, làm cho Shiva nổi ghen. Shiva liền khiến Ganesh biến dạng trở thành « đầu voi, bụng bự », rồi giao cho Ganesh chỉ huy đám thị vệ lùn của mình.
            Theo thuyết thứ hai thì Ganesh sinh ra từ cáu ghét của Parvati, hay từ máu kinh nguyệt của Bà. Sau đó Parvati giao cho Ganesh trách nhiệm giữ cửa phòng mình, chủ yếu là để ngăn không cho Shiva xông vào, trong những lúc Bà không muốn. Một cách « thi vị » hơn một chút, người ta kể rằng trong lúc Parvati tắm, Shiva đòi vào, Parvati không cho, và lấy cáu ghét của mình làm nên Ganesh để ngăn chặn Shiva. Chuyện khác : Parvati đang có kinh, không muốn tiếp Shiva, liền lấy máu kinh nguyệt của mình làm nên Ganesh, vẫn với sứ mạng chặn đường Shiva. Thật ra chỉ cần ghi nhận Ganesh sanh ra từ sự ô uế bợn nhơ của người nữ.
            Khi mới sanh, Ganesh rất đẹp trai (như thuyết trước). Nhưng, trong lúc giữ cửa cho mẹ, gặp lúc Shiva xông đến đòi vào, Ganesh liền khện cho Shiva một trận không nhân nhượng. Shiva gọi Vishnu đến giúp, Ganesh khện luôn Vishnu. Rốt cuộc Brahma phải nhập cuộc, và trước thần lực của toàn thể Ba Ngôi, Trimurti, Ganesh thất thế và bị chặt bay đầu. Parvati nổi tam bành, đòi « Chúa Ba Ngôi » phải trả lại cho bà đứa con yêu dấu. Shiva, Ngôi thứ ba, xuống nước, hứa sẽ khẩn cấp ráp lại cho Ganesh cái đầu thứ nhất mà Ngài chớp được. Một con voi lò mò bước đến. Thế là Ganesh được ráp cho một cái đầu voi ! Thuyết này nhấn mạnh đến « mặc cảm oedipe » của trẻ con : bé trai yêu mẹ và ghen với bố, trong tiềm thức hình dung sự tranh chiến với bố, cũng như những hình phạt mà nó phải chịu (thiến) nếu vượt quá một lằn ranh dục tính nào đó. Thật ra, có chỗ kể rằng Ganesh đã thực sự có liên hệ xác thịt với Parvati.
            Một thuyết khác cho rằng khi Shiva chặt đứt cái đầu thứ năm của Brahma, cái đầu Đạo Sĩ, thì Ngài kiêu hãnh trưng bày « của quý » ra trước các vị phu nhân của những Đạo Sĩ cao trọng. Các Đạo Sĩ này nguyền rủa Shiva, khiến cho dương vật của Shiva rơi xuống đất, và đồng thời Shiva trở thành một con voi. Một vị Thần ráp dương vật lại cho Shiva và Shiva lấy lại hình thù cũ. Đến khi Shiva làm tình với Parvati, thì một giọt tinh dịch rơi xuống đất, hóa ra Ganesh, mang đầu voi, nhắc lại việc cha mình cũng đã từng là voi. Ở đây cần ghi nhận liên hệ giữa bản tính « voi », tượng trưng cho sự thông thái, và sự kiện bị thiến mất dương vật.
            Còn một thuyết thứ tư theo đó Parvati để rơi một giọt máu kinh nguyệt của mình xuống sông Hằng (Gange). Một Nữ Quỷ nuốt giọt máu ấy, thụ thai, sanh ra Ganesh với năm cái đầu voi. Bốn cái đầu bị cắt, còn lại Ganesh với một đầu voi. Thuyết này nhắc chuyện bị cắt đầu trong thuyết thứ hai, đồng thời gợi lại chuyện Brahma với năm cái đầu và chuyện sanh ra từ máu kinh nguyệt. Một chi tiết khác, sông Gange, tượng trưng bởi Nữ Thần Ganga, nơi Parvati đặt giọt máu kinh nguyệt của mình, nằm ngay trên chính ... búi tóc của Shiva !
TỪ CHUỘT ĐẾN VOI VÀ BIỂU TƯỢNG THĂNG HOA
             Đầu voi của Ganesh chỉ có một chiếc ngà duy nhất, phía bên phải. Biểu tượng của hai ngà voi là :  lý trí bên phải, và tình cảm bên trái. Ganesh chỉ có chiếc ngà bên phải, được coi như lý trí khắc phục tình cảm. Tuy nhiên, trong điều kiện nào vị Thần đã đánh mất chiếc ngà bên trái. Lại có nhiều thuyết.
Ganesh
Ganesh cưỡi chuột
            Ngày nọ Ganesh đang giữ cửa phòng của bố mẹ mình thì Krishna (hóa thân của Vishnu) mò đến. Ganesh ngăn lại. Krishna dùng búa rìu chặt đứt chiếc ngà bên trái của Ganesh.
            Thuyết khác. Ganesh rất tham ăn, nhất là bánh kẹo. Một hôm Ngài ăn đầy một bụng kẹo bánh, no cành hông, sau đó cưỡi một con chuột  đi chơi. Có con rắn làm cho chuột hoảng sợ nhảy dựng lên. Ganesh té bể bụng, như chúng ta thường dọa trẻ con khi chúng ăn quá nhiều kẹo bánh. Tuy nhiên Ganesh không phải là một nhóc tì cơ bản, mà là một vị Thần. Ngài liền lượm tất cả kẹo bánh tung tóe khắp nơi, nhét trở vào bụng mình, cột lại với con rắn cho chắc chắn, rồi lại … đi chơi tiếp ! Vị Thần Mặt Trăng (Chandra) và 27 bà vợ (27 vị Tinh Tú), thấy cảnh khôi hài ấy, không nhịn được, cùng nhau ôm bụng cười ngặt nghẽo. Ganesh giận dữ (như trẻ con khi bị chế diễu), bẻ một chiếc ngà của mình, chọi Mặt Trăng. Mặt Trăng buộc phải lặn mất. Mặt trăng tượng trưng cho thời gian. Không còn mặt trăng thì không thể được. Chư Thần liền đến thuyết phục Ganesh xin tha lỗi cho Mặt Trăng. Ganesh nhận lời, nhưng quy định những lúc Mặt Trăng được xuất hiện và những lúc phải khuyết đi và biến mất.
            Một thuyết thứ ba cho rằng khi Vyasa, tác giả chuyện Mahabharata thuật chuyện này lại cho Ganesh, thì vị Thần bẻ một chiếc ngà của mình để làm bút ghi lại lời của Vyasa. Với thuyềt này, Ganesh là Thần của văn sĩ và là biểu tượng của sự thông minh trí tuệ.
ganesh
Biểu tượng Ganesh
             Ngoài ra bụng bự của Ganesh biểu tượng cho sự thịnh vượng, nhưng cũng là sức hàm chứa vô lượng. Đầu voi to lớn, như đã nói, tượng trưng cho trí tuệ thông thái, tai to nghe nhiều hiểu rộng. Cái vòi tượng trưng cho những khả năng dặc biệt không ai có được. Chiếc vòi có thể khai thông mọi bế tắc, quật ngã cây cối, gúp vượt qua rừng rậm, nhưng cũng lại rất tế nhị, thậm chí nhặt nổi một cây kim ! Sự kiện Ganesh cưỡi chuột cũng đáng được quan tâm. Con chuột tí hon lại được gán cho Thần Voi Ganesh ! Toàn thể thế giới loài vật được coi như hiện diện trong khoảng cách giữa chuột và voi, tức là trong Ganesh (con vật được cưỡi bởi các vị Thần cũng là biểu hiện của vị Thần ấy). Ganesh tượng trưng cho sự thăng hoa từ chuột tới voi, từ nhơ bẩn ô uế đến Hiện Hữu linh thiêng cao quý, từ tâm lý trẻ con nhỏ mọn đến Trí Tuệ cao siêu không giới hạn.


Mẹ hiền từ Durga

Mẹ hiền Durga

       Vào một thời xa xưa, Quỷ Vương Mahisha và bộ hạ nổi lên chinh phục các tầng Trời và tàn sát chư vị Thiên Thần. Họ đến cầu cứu « Chúa Ba Ngôi » Trimurti. Ba Ngôi phóng linh quang như những lằn chớp sáng rực bầu Trời. Ở nơi hội tụ của ba luồng hào quang chói lửa đến từ Ba Ngôi Thiên Chúa nảy sanh ra một Nữ Thần, đó là Durga.

      Mỗi vị Thần trên Thiên Quốc đều tặng Durga một vũ khí hay một bảo vật để hàng phục quỷ vương. Shiva tặng cây đinh ba, Vishnu tặng đĩa Kim Luân và dây Quyên Sách, Surya, thần Mặt Trời, tặng cung tên, Chandra, thần mặt trăng, tặng cây búa rìu, Sơn Thần Himalaya tặng con sư tử, Thần Chết Yama tặng chày Kim Cương, Thần gió Vayu tặng ống loa, Hỏa Thần Agni tặng hỏa tiễn, v.v… 
      Durga tượng trưng cho sự đón nhận của nữ tính, nên hội tụ mọi quyền năng của chư Thần. Các quyền năng ấy cũng biểu tượng cho các đức tính rất đa dạng nhưng cần thiết để hàng phục những khuynh hướng xấu trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Để có được những đức tính ấy, chúng ta phải có thái độ sẵn sàng đón nhận, một thái độ gắn liền với nữ tính của Durga.
            Điểm đặc biệt là mặc dù Durga là một chiến tướng rất dũng mãnh quyết liệt, nhưng trong dân gian, Ngài lại được tôn thờ như một người mẹ tươi cười, từ ái, hiền hòa.
            Trong trận chiến chống lại ác quỷ, Durga chỉ huy một đội ngũ bảy nữ thần (sanh ra từ Durga, mỗi Vị mang đặc tính của một Nam Thần đã « đầu tư »  vào Durga), gọi là bảy bà mẹ (Sapta Matrika). Các Bà anh dũng thắng thế tiêu diệt đối phương. Tuy nhiên, khi quỷ bị giết hay bị thương, thì mỗi giọt máu của nó rơi xuống đất lại liền nảy sanh ra một con quỷ khác, cứ như thế, liên tu bất tận (như quái vật Hydre trong huyền thoại Hy Lạp, có nhiều đầu, mỗi đầu bị chặt, liền mọc thêm hai đầu khác). Cuối cùng Durga ra lênh cho một Nữ Thần há to miệng nuốt hết những giọt máu từ ác quỷ tuôn ra, khiến quỷ không thể tái tạo được nữa, đem lại chiến thắng toàn diện. Vị Nữ Thần uống máu ấy là Kali, bà mẹ dữ tợn.

Thần hủy diệt Kali




Kali
Thần hủy diệt Kali
         Kali là một nữ thần đặc biệt ghê rợn. Nước da Ngài màu đen, tượng  trưng cho sự tan biến của mọi màu sắc. 

      Khuôn mặt Ngài, với mái tóc dựng đứng, con mắt thứ ba nằm giữa trán (như Shiva), miệng mở to, lưỡi đẫm máu thò dài ra ngoài, gợi cho chúng ta hình ảnh Nữ Ác Thần Meduse trong huyền thoại Hy Lạp.
      Vả lại Kali cũng có khả năng hủy diệt đối thủ của mình bằng tia nhìn nảy lửa từ con mắt thứ ba của Bà, y hệt như Meduse. Vươn lưỡi ra thật xa cũng là một kỹ thuật Yoga. Thông thường trong thiền định người ta uốn lưỡi đặt lên hàm trên sau hàng răng cửa, nhưng cũng có Yogi cuộn hẳn lưỡi về phía sau, chặn đường hô hấp để đưa đến những cảm giác đặc biệt, hay đến … chết.
            Kali thường trần truồng, một khía cạnh của phá chấp, hay của « sống thật » không che đậy giả dối. Ngài mang một sâu chuỗi gồm năm mươi sọ người, mỗi sọ ứng với một chữ trong vần Sanskrit, chứng tỏ sự thông thái, hay sự phù phiếm của « danh sắc » (nama ruppa – trong thập nhị nhân duyên). Kali cũng nhảy múa điên cuồng như Shiva, tương truyền do chất độc chứa trong máu của ác quỷ mà Ngài đã  uống. Nhắc lại là Shiva cũng đã từng phải uống chất độc khi chư Thần và Ma Quỷ cùng hè nhau quậy « Biển Sữa ». Vũ điệu của Kali cũng tàn phá mọi sự vật (như Shiva), và cũng cần được ngăn chặn. Vị Thần ngăn được điệu vũ hoại diệt của Kali lại là Shiva. Shiva nằm xuống dưới chân Kali, và vị Nữ Thần ngừng  dẫm tan thế giới. Hình tượng Shiva nằm trong tư thế này tựa hồ như người chết. Người ta cũng nói Kali là chữ « i » trong tên Shiva. Mất chữ « i » ấy thì Shiva trở thành « shv » (đọc là shuw), nghĩa là thân xác không còn sinh khí. Có thể hiểu rằng : Shiva trút bỏ sự sống cá biệt của mình, chết đi, để Kali, sự sống thật, sự sống của Toàn Hữu, nổi lên đạp trên sự chết. Chiến thắng sự chết là một đề tài thường thấy trong Phật và Ky Tô Giao, cũng như trong triết học Hy Lạp (phái Stoïcien và Epicurien).
            Shiva được coi như cha của Kali. Thật ra, như đã nói ở trên, mọi Nữ Thần đều đến từ nữ tính của Shiva. Một hình ảnh của Kali hình dung Bà quỳ trên người Shiva, dương vật của Shiva trong âm hộ của Bà. Một tay Kali cầm lưỡi liềm đẫm máu, tay kia cầm một cái mâm trên đó có đặt thủ cấp của chính Bà. Một tia máu phun từ thủ cấp trên mâm vào miệng của Kali. Trong một hình ảnh khác, Kali cũng với hai cái đầu, đầu nọ uống máu phun ra từ đầu kia, ngồi trên một cặp trai gái đang làm tình. Người đàn bà, Ratti, nghĩa là lạc thú, ở trên người đàn ông, Kama, là « dục », hay Thần Ái Tình. Một hình ảnh khác nữa hình dung Kali nhảy múa đạp trên Ratti và Kama (vẫn đang làm tình), có thể được hiểu là Kali chà đạp lạc thú và ái tình, tức mang đức tánh tu hành khổ hạnh. Nhiều nhà khổ hạnh hay Đạo Sĩ tự cho mình là « tình nhân » của Kali, điển hình là Rama Krishna (1836-1886).

Shiva- Thần sáng tạo và hủy diệt

shiva
Shiva

      Hiện thần thứ hai của Brahmâ là thần Shiva, dưới hình ảnh như nhân, Shiva có nước da trắng tượng trưng cho bản chất thuần túy của tất cả màu sắc. Shiva có ba mắt tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng và ngọn lửa thế gian, có thể nhìn thấu quá khứ, hiện tại và tương lai. Mái tóc rối của Shiva tượng trưng thần gió.

Mái tóc đó cũng tượng trưng cho sức mạnh vì sông Hằng Hà linh thiêng khi nhận lời cầu xin của một đạo sĩ thấu thị (Rishi) xuống trần, Shiva đã phải xõa tóc cho dòng nước xuôi theo và đổ xuống nhẹ nhàng, nếu không thì thế gian đã rung chuyển và xụp đổ tan tành. Một hôm thần Brahmâ trông thấy thần Vishnu đang nằm trên một chiếc lá sen trên mặt nước nguyên thủy, Brahmâ hỏi danh tính. Vishnu bèn xưng danh và kêu Brahmâ bằng con.
Brahmâ tức giận và tuyên bố chính mình mới là đấng sáng tạo và hủy diệt vũ trụ. Vishnu bát bỏ lời của Brahmâ, cương quyết cho mình mới là đấng sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt vũ trụ, hai bên đang cãi cọ tranh giành ngôi thứ, thì bỗng hiện ra một cột lửa cao ngất tưởng chừng như không có khởi nguyên. Hai thần bèn ngừng cuộc tranh luận và đồng ý chia nhau đi tìm đầu và cuối của cột lửa. Vishnu đi xuống dưới gốc và Brahmâ đi lên phía ngọn.
      Sau một thời gian thám hiểm rất lâu, cả hai đều không đạt được mục đích và phải trở về nơi gặp gỡ ban đầu. Vừa khi đó không gian bỗng vang lên âm thanh linh thiêng của tiếng AUM* và Shiva xuất hiện giữa cột lửa khiến cả Brahmâ và Vishnu đều cảm thấy hân hoan.
      Khi ấy Shiva bèn nói cho hai thần biết rằng không có ai hơn, ai kém, và ba ngôi tối linh Brahmâ-Vishnu-Shiva chỉ là ba tác dụng khác nhau của cùng một bản thể. Shiva có hai đời vợ nhưng cùng là một người trải qua hai kiếp. Kiếp thứ nhất nàng tên là Sati (Hiền phụ), con gái của Daksha (Tài Trí), một trong tám vị thần sáng tạo do Brahmâ tạo ra.
sati
Shiva và vợ Sati
      Daksha vốn không vưa Shiva vì Shiva thường có bề ngoài là một đạo sĩ khất thực tiều tụy và không tỏ thái độ tôn kính mình. Daksha đã đuổi Sati ra khỏi địa phận của mình khi nàng nhất định chọn Shiva làm chồng. Một lần Sati về nhà vào dịp làm lễ mừng thần Vishnu, Daksha đã không tiếc lời nhục mạ nàng cùng Shiva. Sati bèn thoát hồn trả lại thân xác cho cha. Shiva nổi giận, giết chết Daksha tức thì. Sati tái sinh làm con gái của thần núi Himâlaya (Núi Tuyết), mang tên là Umâ Himavutee và thường được gọi là Pârvati (Sơn nữ).
      Sau nhiều lần thử thách về đức tính, Shiva lấy Pârvati làm vợ. Khi Shiva đã múa vũ điệu Tândava, tượng trưng cho sự vận hành của vũ trụ tại hí viện Thiên Đàng của thần sét Indra. Khi nhảy múa như vậy, Shiva đã cho phát ra năm cung điệu căn bản.
Indra
Thần Sét Indra
      Khi vợ Shiva là nàng Pârvati cất tiếng hát thì có thêm một cung điệu thứ sáu. Sự kết hợp giữa Shiva và Pârvati biểu thị sự kết hợp giữa Chất và Năng chuyển hóa thành các âm điệu và cung bậc.
Các cung điệu có liên hệ với toàn thể vũ trụ vì mỗi cung âm có một giá trị riêng biểu thị cho một hệ thống tinh thể, và toàn thể hệ thống tinh thể chính là nguồn gốc các âm thanh phát ra trong vũ trụ. Con trai lớn của cặp vợ chồng Shiva- Pârvati là Kârttikeya đã có công diệt được quỷ Târaka, đem lại yên vui cho thế giới thần linh và được thờ làm thần chiến tranh.
Parvathy
Shiva và vợ Parvathy
      Con thứ hai của Shiva và Pârvati là Ganesha, mình người đầu voi, được tín đồ Ấn Độ giáo tin thờ như một phúc thần, ban phát hạnh phúc thịnh vượng cho nhân loại.Shiva là vị thần tiền Veda cổ xưa nhất của dân bản xứ Ấn độ; đến khi đồng hóa với dân tộc Aryan, Shiva đã thay thế cho thần Bão Rudra trong Veda để làm giảm bớt cái ý nghĩa ghê gớm của danh hiệu Rudra.
      Sống với chết không những chỉ tiếp nối nhau mà còn đồng nhất với nhau. Với tư cách nguyên lý của sáng tạo, Shiva là nguồn sống. Nhưng tại sao người ta lại coi Shiva là biểu hiện cho hủy diệt (Tamas)? Tamas nghĩa đen là tối tăm, biểu thị cho khuynh hướng ly tâm, hủy diệt (trái với sattva biểu thị cho khuynh hướng quy tâm, xây dựng).
      Vũ trụ càng phân tán tức là càng tan rã, hòa đồng vào đêm tối của vô chất nguyên thủy, chấm dứt mọi sự phân biệt trong không gian và thời gian. “Hữu hình tất hữu hoại” là định luật thiên nhiên tất yếu. Từ u tịch mà có sự sống, sự sống lại trở về u tịch, bởi thế Tamas vừa là nguyên nhân, vừa là cứu cánh của mọi đời sống, và vì cứu cánh quan trọng hơn hết nên Shiva được mệnh danh là thần hủy diệt.
     Thần Shiva múa Với ý nghĩa ấy, Shiva còn được mệnh danh là thần của giấc ngủ. Khi mọi người đã chán hành động, chán sống, chán biết, chán lạc thú và đau khổ, và đi tìm một sự yên nghỉ thực sự trong giấc ngủ say không mộng. Khi ấy họ trở về với Chúa tể của giấc ngủ, chốn yên tịnh, cực lạc (Sambha)

TRUYỆN ÔNG HOÀNG ĐÀO HOA KRISHNA

krishna
Krishna


(hóa thân thứ tám của thần Vishnu)
      Thần giáng sinh vào lúc hoàng tộc có sự bất hòa : Kansa truất ngôi cha, hạ ngục chị là bà Devaki, cùng chồng bà là Vasu-deva. Không những chỉ hạ ngục anh chị, mà còn hạ lệnh giết bất cứ người con nào của chị sinh ra vì có lời tiên tri Kansa sẽ bị giết bởi một người con của bà Devaki. Kansa đã giết tất cả sáu đứa con của Devaki. Khi bà này sắp sửa sinh hạ đứa thứ bảy thì thần Vishnu tới cứu bằng cách lấy bào thai còn trong tử cung mang lại trao cho Rohini, người vợ khác của Vasu-Deva, lúc đó đương sống cùng hai vợ chồng người chăn bò Nanda và Yashodâ tại Gokula. Tới kỳ hạn, đứa trẻ bọc sinh ra và mang tên là Bala-Râma. (Chính là hóa thân của rắn thần Ananta mà thần Vishnu vẫn nằm nghỉ ngơi trên đó)
Krishna chào đời

       Sau đó bà Davaki lại mang thai đứa thứ tám. Vào lúc bà hạ sanh đứa trẻ này, nhã nhạc vang lừng, trên mặt đất các cây đều nở hoa tưng bừng. Đứa trẻ này chính là thần Vishnu giáng sinh lần thứ tám thành Krishna. Khi vừa sinh ra, Krishna xuất hiện trước cha mẹ với vương miện trên đầu, mình mặc áo vàng, bốn tay cầm bốn vật tượng trưng là vỏ ốc, đĩa tròn, bông sen và cái chùy. Krishna nói với cha mẹ hãy mang mình tới nhà Yashodâ để đánh tráo lấy đứa con gái mà Yashodâ sắp sinh. Dứt lời, Krishna trở lại hình hài đứa trẻ sơ sinh. Tuy sự hiển hiện cùng lời dặn dò vừa qua rất đỗi kỳ lạ, Vasu-Devâ cũng quyết định tuân theo. Ông đặt đứa trẻ nằm gọn trong một cái lẵng, rồi đội lên đầu sửa soạn ra khỏi nhà tù. Những dây xích tự nhiên được tháo tung, cửa ngục mở, các lính canh ngục ngủ thiếp trong mê man và Vasu-Devâ ra đi êm thắm.
      Trên đường đi, Vasu-Devâ phải lội qua con sông Yamunâ. Lội tới giữa dòng, đứa trẻ bỗng trở nên nặng quá chừng, nước sông lại gần ngập tới đầu, khó mà lội qua được. Nhưng khi đứa trẻ vừa khỏa chân xuống nước, dòng sông bỗng rút cạn, thế là hai cha con sang bờ yên lành

       Khi tới nhà Nanda, có tiếng vọng ra bảo Vasu-Devâ cứ vào, cứ đặt đứa con trai xuống bên cạnh Yashodâ và mang đứa trẻ gái Yashodâ mới sinh trở về ngục. Việc xảy ra thật lẹ và êm thắm. Cả Nanda và Yashodâ đều không hay biết chi cả. Từ đấy Yashodâ nuôi nấng Krishna mà vẫn tưởng là nuôi chính con mình đẻ ra.

       Nghe tin chị sinh, Kansa lại tìm cách giết đứa trẻ, lần này cô gái hiện hình một nữ thần bảo với Kansa rằng đứa trẻ mà Kansa muốn giết hiện đương sống ở Gokula bên kia bờ sông Yamunâ. Kansa bèn sai bầy âm binh của mình đi giết hết những trẻ sơ sinh của cả vùng này.

       Chuyện kể về thời thơ ấu của Krishna thật nhiều. Yashodâ luôn luôn lo lắng về những hành vi lạ lùng của chú bé, mới phút trước chú là chú bé thường, phút sau chú đã hiện thành đấng chí tôn của vũ trụ. Bà cũng lo lắng về việc Kansa luôn luôn tìm cách ám hại đứa trẻ. Một lần Kansa sai Pâtanâ, một con ma cà rồng, hiện thành hình một người đàn bà có vẻ đẹp dịu hiền tới bế đứa trẻ lên lòng cho bú. Krishna hút hết chất độc tự vú con yêu ra, khiến nó chết tức khắc và hiện nguyên hình.

       Một lần khác Yashodâ đặt chú bé chơi yên lành dưới gầm một chiếc xe bò lớn trong sân. Yashodâ vừa đi nơi khác, một con quỷ bộ hạ của Kansa bèn nhảy lên định làm cho chiếc xe sập xuống nhưng Krishna đã lấy ngón chân hất phăng chiếc xe nặng đập vào tường đối diện, giết chết tươi con quỷ. 

       Một lần khác Yashodâ đương cùng chú bé đùa thì một đám mây đen kịt bất chợt sà xuống, túm lấy cổ chú bé rồi bay lên cao. Lần đó cơ hồ không còn cách gì cứu được chú bé, nhưng đám mây bị cưỡng bay chậm lại rồi hạ thấp dần xuống làng, chú bé thoát nạn. 

       Một lần Yashodâ muốn giữ cho chú bé khỏi nghịch bèn cột chú vào trục một bánh xe. Nhưng chú đâu chịu đứng nguyên một chỗ. Chú kéo lết chiếc bánh xe tới phía hai cây cổ thụ lớn mọc sát bên nhau. Chú gắng đi lọt vào giữa, chiếc bánh xe bị mắc chặn, chú vẫn kéo làm hai cây cổ thụ đổ rụp. Bỗng có hai thần linh hiện lên nói họ vốn đã bị cầm tù trong cây từ lâu, nay được Krishna phóng thích, họ xin một lòng quy thuận và thờ phụng như bậc thầy.
      Krishna thường hay lấy cắp bơ của các bà hàng xóm để phân phát cho khỉ và cho lũ trẻ khác, nhưng khi các bà tới mách thì bà nào cũng ngạc nhiên nhận thấy rằng Krishna đã lấy cắp bơ ở nhà mình vào cùng một lúc, còn bà Yashodâ lại xác nhận rằng cũng lúc ấy Krishna không hề ra khỏi nhà.
Một lần khác Krishna bốc đất bỏ vào miệng khi bà Yashodâ mở miệng Krishna để lấy đất ra thì được chứng kiến hình ảnh toàn thể vũ trụ. 

       Khi lên sáu, lên bảy, Krishna được phép theo anh là Balâ-râma ra đồng cỏ chăn đàn súc vật. Khoảng thời gian này trong rừng Brindâban thường vang ròn những tiếng cười của Krishna cùng lũ bạn mục đồng. Krishna rất thích thổi sáo, tiếng sáo huyền ảo đến nỗi dòng sông Yamunâ cũng chạy lạc đường vì mải nghe, và những bông sen khắp vùng đều bừng nở mãn khai trong hân hoan.

       Một lần có con rồng khổng lồ ẩn mình rất khéo chỉ để lộ riêng chiếc miệng há rộng của nó. Lũ trẻ mục đồng ngỡ đó là cửa động bèn chạy ùa vào. Con rồng hít hơi lùa cả lũ trẻ cùng đàn súc vật vào bụng. Lũ trẻ la hét kêu cứu Krishna. Krishna bèn tới cho con rồng hít nốt mình vào bụng. Nhưng khi đã vào trong, Krishna trở thành cao lớn dị thường làm vỡ bụng con rồng, lũ mục đồng và đàn súc vật được cứu thoát toàn vẹn.

       Một ngày kia có một con hạc khổng lồ cao bằng trái núi tới đậu bên bờ sông. Krishna để cho con hạc cặp mình giữa mỏ. Nhưng hạc chưa kịp nuốt thì Krishna đã trở thành một vật nóng bỏng, con hạc muốn nhả tức khắc, nhưng Krishna vẫn bám lấy, cố làm cho đứt mỏ hạc khiến con chim khổng lồ phải rãy chết.

       Một lần khác quỷ Metrâsur hiện thành hình một con cừu đực, thoạt giả vờ gậm cỏ yên lành, rồi bất chợt lao hết tốc độ về Krishna. Ai cũng nghĩ rằng lần này Krishna tất phải chết, nhưng Krishna vẫn điềm nhiên đợi lúc con quỷ vừa tới, bèn vung tay nắm lấy gáy cừu quay tít mấy vòng trên không rồi ném thẳng vào gốc cây. Metrâsur tan xác, máu thịt văng tung tóe khắp nơi. 
Krishna cưỡi đà điểu Garuda
      Vào một ngày nóng nực, đoàn mục đồng tới hồ Kâliya uống nước. Chúng không biết nước hồ đã nhiễm độc từ lâu, vì vậy chúng chết hết. Thấy vậy, Krishna khóc rống lên, nước mắt tiếc thương rỏ xuống và các bạn nhỏ đều hồi sinh. Krishna bèn quyết định giết con rắn độc ngụ dưới hồ. Con rắn độc Kâliya này đã phải rời bỏ chỗ ở cũ của nó vì sợ thần điểu Garuda (do Vishnu thường cưỡi).
Garuda sở dĩ không tới rừng Brindâban vì có lời nguyền của một đạo sĩ nếu nó tới đó sẽ bị chết. Vì vậy Kâliya vẫn được sống yên lành ở hồ này. Nọc độc của nó tiết ra khiến không một loài cây cỏ nào sống nổi quanh hồ, trừ một gốc cổ thụ. Nguyên do cây này đã một lần Gurada tới đậu; vì Garuda là thần điểu của Vishnu nên cây được nhiễm chất linh thiêng mà không bị nọc rắn làm chết. Một hôm, lũ mục đồng đương chơi banh, trái banh rớt xuống hồ. Krishna trèo lên cây, nhảy xuống hồ. Kâliya thấy nước hồ bị khuấy rộn thì giận lắm, bèn nghển cả trăm đầu lên quan sát. Thấy chú bé, nó bèn quấn lấy kéo xuống đáy hồ, định mổ cho chết. Nhưng răng rắn vừa đụng tới thịt thì Krishna bắt đầu lớn bồng lên; lớn đến mức Kâliya buộc lòng phải thả chú.

       Trong khi đó lũ mục đồng trên bờ hoảng sợ, một vài đứa chạy về báo bà Yashodâ và Nanda.Bà Yashodâ muốn liều nhảy xuống hồ cứu con, nhưng Bala-râma khuyên bà đừng lo ngại, Krishna quyết thắng trận và trở lên. Đoạn Bala-râma trèo lên cây lấy tù và ra thổi, ý báo cho Krishna biết rằng mẹ đương lo lắng.
Krishna cứu nạn cháy rừng
      Krishna bèn thả cho ống sáo của mình nổi lên mặt nước, gián tiếp báo rằng mình không sao. Các bạn bè của Krishna thấy vậy càng sợ hãi vì chúng cho rằng không bao giờ Krishna muốn rời chiếc sáo của mình cả. Bala-râma lại thổi một điệu tù và khác xin Krishna chứng tỏ rằng mình còn sống. Krishna bèn quặp lấy một đầu con rắn ngoi lên khỏi mặt nước. Đầu rắn đảo quẫy làm chiếc lông công như nhảy múa trên mặt nước khiến mọi người đều cho là Krishna bị giết đến nơi rồi. Không lâu Kâliya kiệt sức, Krishna tuần tự chém rụng những đầu của nó. Lúc Krishna sắp hạ độc thủ, chém nốt chiếc cuối cùng thì lũ vợ con rắn sụp lạy xin chú hãy tha sống cho chồng, cho cha. Krishna ưng thuận với điều kiện rắn phải trở về chốn cũ. Kâliya đáp nếu nó về chốn cũ thì thần điểu Garuda sẽ ăn thịt nó mất. Krishna bảo nó cứ yên chí, khi thần điểu Garuda thấy dấu chân Krishna trên đầu nó, sẽ không bao giờ tìm cách hại nó nữa. Thế là Krishna lên bờ. Lúc đó đã muộn lắm rồi, không ai kịp về nhà. Mọi người đồng ý ngủ qua đêm trong rừng. Họ tụ tập dưới một cây đa cổ thụ. Nửa đêm rừng phát hỏa, đám mục đồng thức giấc kêu cứu. Krishna ba lần mở miệng hút hết lửa, cứu được nạn cháy rừng.

Vishnu


vishnu
10 hóa thân của Vishnu

Vishnu- Thần giữ gìn, bảo vệ. Thần có 4 cánh tay cầm:
-Vỏ ốc- tượng trưng cho sự vang vọng của chữ thiêng "Aum"
-Chiếc đĩa- tượng trưng cho sự luân chuyển của thời gian

-Bông sen-tượng trưng cho sự trường tồn
-Cây chùy- tượng trưng cho quyền năng và trừng phạt.
Con vật thần cưỡi là con chim điểu Garuda.
Nước da màu tối của thần Vishnu tượng trưng cho sự vô hình của hư không. Thần nằm trên một con rắn cuộn tròn Seshanag tượng trưng cho vũ trụ tĩnh lặng. Thần Vishnu có 10 hiện thân:
                           
vishnu
Vishnu nằm trên Sheha
                        
      Con cá Matsya là hóa thân đầu tiên của thần Vishnu. Con cá này được Manu cứu khỏi bị một con cá lớn ăn thịt. Manu nuôi cho đến khi nó lớn lên rồi đem thả về đại dương. Đáp lại, con cá báo trước cho Manu về một trận lụt khủng khiếp. Nó giúp Manu đóng một chiếc thuyền trên chứa các loại hạt giống và thú vật để sau này tái tạo thế giới và dẫn con thuyền đến chỗ an toàn.
Matshya
Con cá Matshya
       Vào kỉ nguyên đầu tiên của lòai người (kỉ Sata)có nhà vua tên Manu cai trị thế giới nhiều thế kỉ liền. Ngày kia ông rửa mặt ở dòng suối, một con cá bơi vào tay nhà vua và nhờ ông cứu. Nhà vua bỏ nó vào một cái bình, nhưng cá hóa thành lớn lên, ông thả nó ra suối, suối không đủ, ông thả nó vào sông Hằng Hà rồi thả ra biển... Đến lúc này vua Manu mới biết đây là thần Vishnu.
      Thần nói nhà vua, trong 7 ngày nữa sẽ có một cơn lũ rất lớn hủy diệt cả thế giới, vua phải đóng một con thuyền, đem theo 7 nhà hiền triết, hạt giống của mọi lọai cây, mỗi lòai vật một con thú... Thần sẽ hóa thành con cá dẫn đường cho thuyền vua đến nơi an tòan, sống sót đến kỷ nguyên (yuga) mới.

      
Con rùa Kurma nâng cả hòn núi Mandara trên lưng trong cuộc khuấy đảo biển vũ trụ. Các vị thần bứng hòn núi này và đặt ngược đầu xuống để làm việc nên đỉnh núi cấm sâu vào trong đất khi công việc khuấy đảo bắt đầu. Thần Vishnu trong hóa thân thứ hai là con rùa Kurma, đã lặn sâu xuống dưới hòn núi và xoay tròn theo hòn núi, như một cái guồng để giúp cho công việc được nhanh chóng hơn. Nước biển màu sữa biến thành chất bơ rồi từ đó vọt lên trên chất nước cam lộ, loại thuốc trường sinh bất tử và khôi phục lại quyền năng của các vị thần.
Kurma
Con rùa Kurma
    Varaha là con lợn rừng cứu nguy cho quả đất. Quỷ Hiranyaksha ném quả đất xuống biển vũ trụ, nhưng thần Vishnu trong hóa thân một con lợn rừng đã lao xuống biển, giết chết con quỷ. Sau đó nó tìm ra quỷ đất dưới hình thức một mỹ nhân rồi dùng cặp nanh của mình mang lên khỏi mặt nước.
varaha
Con lợn rừng Varaha
                Con lợn rừng Varaha
       Con quỷ Hiranyaksha được thần Brahma ban cho ân huệ không ai có thể giết nổi nó, nhưng trong danh sách ấy thần quên mất con lợn rừng.
        Hiranyaksha được nước, cướp cả kinh Vễ Đà khi Brahma đang ngủ, hòanh hành cướp phá khắp nơi gieo kinh hòang cho cả thế giới. Thần Vishnu hóa thành lợn rừng, giết chết con quỷ bằng hai răng nanh của mình và lấy lại kinh Vệ Đà trả lại cho thần linh.


      Narasimha là hóa thân thứ tư của Vishnu. Quỷ Hiranyakashipu, anh em sinh đôi của quỷ Hiranyaksha, tiếm ngôi thần Indra và tự xưng là vua của vũ trụ. Hắn nổi điên lên khi thấy con mình sùng bái thần Vishnu và khép con mình vào tội chết, nhưng hắn không giết được con hắn. Trong cơn giận dữ, con quỷ đánh vào một cây trụ để hỏi xem tạo sao không thấy Vishnu hiện ra. Cây trụ nứt ra làm hai và thần Vishnu trong hóa thân thân đầu sư tử mình người Narasimha đã xé xác Hiranyakashipu.

Narasimha
Narashimha
Narasimha nửa người nửa sư tử
Con quỷ chúa Hiranya Kasyapa cầu thần Brahma cho hắn một ân huệ, không ai, dù đó là thần thánh hay ác quỷ có thể giết được hắn dù ngày hay đêm, dù là trong nhà hay ngòai nhà.
Con trai của Hiraniya- cậu bé Prahlad, người rất mực trung thành với thần Vishnu làm Hiraniya tức giận. Hắn tìm mọi cách giết Prahlad, kể cả việc sai  em mình là Holica (có liên quan đến lễ Holi của ấn độ đó) ngồi với Prahlad trong đống lửa.
Một lần Hiraniya tức giận hỏi Prahlad chỉ cho hắn thần Vishnu ở đâu, Prahlad trả lời cha thần ở khắp nơi. Điên tiết, hiraniya đấm gẩy một cây cột và hỏi lớn rằng thần có ở đấy không.
Vishnu với hình dạng nửa người nửa sư tử, không hẳn ở ngòai cũng không hẳn ở trong nhà, xuất hiện lúc buổi chiều, không phải ngày cũng chẳng phải đêm, giết chết Hiraniya và cứu được Prahlad.


      Vamana chú lùn đã cứu cả vũ trụ khỏi tay của quỷ Bali đang nắm quyền cai quản vũ trụ. Để giải thoát cho vũ trụ, thần Vishnu đội lốt một chú lùn trong lần hóa thân thứ năm. Chú lùn xin Bali cho mình một miếng đất chỉ bằng ba bước chân của mình thôi, Bali dễ dàng đồng ý trước sự xin xỏ có vẻ nhỏ mọn này. Thế là Vishnu biến thần anh chàng khổng lồ Trivikrama với ba bước chân bước qua cả âm cung, trần thế và thiên cung.
Vamana
Ân huệ của Bali
Đạo sĩ lùn Vamana
Xưa có người khổng lồ Bali, thần Indra và các thần khác lo sợ hắn sẽ cai trị cả thế giới, phải tìm đến Vishnu nhờ thần nghĩ cách giúp. Vishnu hóa thân thành Vamana một đạo sĩ lùn, tìm đến Bali xin hắn của bố thí.
Bali chấp thuận cho Vamana một mảnh đất đo bằng ba bước chân của ông. Vamana sau 2 bước chân hóa thành khổng lồ che cả bầu trời.
Đến bước thứ 3, Vamana đăt chân lên Bali và đưa hắn về dưới lòng đất.

vamana
Chú lùn Vamana
                                                                  
      Parashurama là hóa thân thứ sáu của thần Vishnu. Dù sinh ra đã là một Bà la môn nhưng được an bài để sống cuộc đời của một chiến sĩ. Chàng được trang bị một chiếc rìu vạn năng do thần Shiva ban cho. Để trả thù cho sự sỉ nhục cha mình, chàng đã giết sạch đàn ông của giai cấp chiến sĩ và ra lệnh cho các góa phụ của họ ngủ với các Bà la môn để sinh ra một giai cấp chiến sĩ mới thuần khiết hơn.

parashurama
Chiến sĩ Parashurama
      Rama là hóa thân thứ bảy của thần Vishnu, được các vị thần giao cho nhiệm vụ tiêu diệt Ravana, quỷ vương xứ Lanka (đảo Sri Lanka). Rama là con của vua Ayadhya đã lấy được người đẹp Sita sau khi trổ tài uốn cong và bẻ gãy được cây cung không ai uốn nổi của thần Shiva. Chàng bị dì ghẻ đẩy vào trong rừng 14 năm, tại đây vợ chàng bị Ravana bắt đi. Sau nhiều cuộc mạo hiểm, Rama đã giết được Ravana giành lại Sita và trở về vương quốc của mình, trị vì trong 1000 năm.

       Krishna vị thần và là hóa thân thứ tám của thần Vishnu, lúc mới sinh ra đã được giấu kín vì một lời tiên tri nói rằng đứa con thứ tám của mẹ cậu sẽ giết hôn quân Kamsa. Krishna được nuôi nấng âm thầm giữa một đám trẻ chăn bò. Sau khi giết chết một loạt những con quỷ, gồm cả Vatsasura dưới lốt một con bò con, Krishna đã giết được Kamsa.

krishna
Krishna
Ông còn hỗ trợ người anh hùng Arjuna trong cuộc đại chiến Kurukshetra khi cải trang làm người đánh xe cho Arjuna.

      Đức Phật Cồ Đàm hóa thân thứ chín của thần Vishnu, không được nhận biết mãi cho đến thế kỷ thứ ba hoặc thứ tư sau CN. Trong các chuyện kể trước tiên về hóa thân này người ta cho rằng Vishnu đã đảm nhận hóa thân này để cải hóa bọn quỷ đi theo đạo Phật, với ý định làm cho chúng suy yếu đi trong cuộc chiến chống lại các vị thần, hoặc để làm lạc lối những kẻ tội lỗi, khiến họ sẽ phải chịu sự trừng phạt xứng đáng.
Phat Co Dam
Thái tử Cồ Đàm
 Về sau người ta đưa ra một lý do rõ rệt hơn: để xóa bỏ tục hiến tế súc vật.                

      Kalkin hay Kalki là hóa thân thứ mười và là hóa thân cưối cùng của thần Vishnu, vẫn chưa xuất hiện. Vị này sẽ xuất hiện vào cuối thời đại hiện nay, thời đại Kali Yuga, đã bắt đầu từ năm 3102 trước CN và sẽ kéo đải 432.000 năm. Trong những năm cuối cùng của thời đại này, loài người sẽ phải đối diện với một sự sụp đổ của các nền văn minh và sự mất mát các giá trị tinh thần, đạo đức. Hóa thân Kalkin thần thánh, cưỡi trên con ngựa trắng, sẽ phải có mặt để quét sạch các ác thần thế gian và thiết lập một kỷ nguyên mới.

kalkin
Kalkin